thơ trào phúng hồ xuân hương

VHSG- Từ khi có thơ đăng báo ở Hà Nội những năm 1930, bút danh Tú Mỡ rất hấp dẫn bạn đọc. Tú Mỡ tên khai sinh là Hồ Trọng Hiếu, sinh ngày 14-3-1900. Họ Hồ của ông là một chi của họ Hồ ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, quê của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, chuyển ra sống ở Hà Nội đã ba đời. Từ bé, Hiếu rất nghịch ngợm, hay trêu chọc bạn bè. Lớn lên, ông rất thích đọc thơ văn trào phúng của các nhà thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương… Với năng khiếu bẩm sinh và tự trau dồi kiến thức, làm thơ khôi hài, châm biếm, dần dần ông nổi tiếng khắp Đôi nét về Hồ Xuân Hương - bà chúa thơ Nôm. Trong nền văn học Việt Nam nói phổ biến cùng vnạp năng lượng học tập trung đại đất nước hình chữ S dành riêng, Hồ Xuân Hương là 1 Một trong những nhà thơ vượt trội, sẽ "làm sửng nóng cả đương thời lẫn hậu nắm Chúng tuy mang tiếng chữ nghĩa đầy mình nhưng khi thốt ra cũng chẳng khác. 4. gì "lũ ngẩn ngơ", không biết gì, để đến nỗi một cô gái trẻ phải "dạy" lại. Hồ Xuân. Hương gọi chúng là "dê cỏn" chứ không phải dê con, vì dê con là dê còn nhỏ, còn. ngây thơ, "dê Hồ Xuân Hương - bà chúa thơ Nôm được coi là thay mặt đại diện cho người thiếu phụ tài ba bạc mệnh vào buôn bản hội cũ. 2. Tìm phát âm về phong cách chế tác của bà chúa thơ Nôm - Hồ Xuân Hương. Với nhiều tác phđộ ẩm thơ Nôm khác biệt, Hồ Xuân Hương được Pseudo Sympa Pour Site De Rencontre. Hồ Xuân Hương là một trong những gương mặt nổi bật trên văn đàn Việt Nam, với tư tưởng mới mẻ và lối làm thơ phá cách, các tác phẩm của bà đã đem lại nhiều giá trị về việc nghiên cứu cho giới phê bình. Mặc dù sự nghiệp văn chương rất thành công nhưng Hồ Xuân Hương lại phải trải qua một cuộc đời nhiều bất hạnh, chính những nỗi đau ấy đã giúp cho tác giả đạt được thành tựu to lớn trên con đường sáng tác thi ca của mình. Vài nét về thân thế và cuộc đời của tài nữ họ Hồ Bà sinh năm 1772 tại Thăng Long có nguyên danh Hồ Phi Mai với biểu tự Xuân Hương, trong cuốn Giai nhân dị mặc chép rằng nhà thơ là con gái của Sinh đồ Hồ Phi Diễn, quê ở Nghệ An. Năm mười ba tuổi, sau khi thân phụ mất thì Hồ Xuân Hương theo mẹ về làng Thọ Xương đi học rồi ở nhà giúp việc. Bà có một tuổi thơ êm đềm ở dinh thự Cổ Nguyệt đường ven hồ Tây, khi ấy là nơi xa hoa bậc nhất Đàng Ngoài. Chân dung nhà thơ Hồ Xuân Hương Mẹ bà đã tái hôn với người khác sau khi mãn tang chồng, mặc dù sống trong ràng buộc bởi lễ giáo phong kiến nhưng Hồ Xuân Hương vẫn có được tư chất thông minh và hiếu học, điều này được bộc lộ ở khả năng sáng tác tuyệt vời của bản thân. Thơ Hồ Xuân Hương được đánh giá cao với nét thanh thanh tục tục đặc sắc, những tác phẩm của bà đã đóng góp rất nhiều trong việc Việt hóa thể thơ Đường luật cũng như là thể hiện những tư tưởng tiến bộ vượt khỏi khuôn khổ thời đại bấy giờ. Bìa cuốn Lưu hương ký Hồ Xuân Hương có tập Lưu hương ký nổi tiếng với nhiều bài thơ khác được viết bằng chữ Nôm và chữ Hán. Sau này bà tập trung sáng tác với chữ Nôm và tính đến nay, thi sĩ đã để lại cho đời hơn 150 tác phẩm có giá trị. ề tựa cho thi tập Lưu hương ký được phát hiện năm 1964, nhà phê bình Tốn Phong viết “Tứ thơ dồi dào nhưng vẫn tỏ ra vui mà không buông tuồng; buồn mà không đau thương; khốn khổ mà không lo phiền; cùng mà không bức bách. Thật là do tính tình nghiêm chỉnh mà ra. Cho nên, khi hát lên, ngâm lên những lời thơ ấy, thì tay cứ muốn múa, châm cứ muốn dậm mà không tự biết. Lưu hương ký tuy đầy vẻ gió, mây, trăng, móc, nhưng đều tự đáy lòng mà phát ra, biểu hiện thành lời nói, lại cũng đều đúng với cái ý trên kia là xuất phát từ mối tình mà biết dừng lại trên ân nghĩa.” Bên cạnh đó còn có nhiều giai thoại truyền miệng về lối sống phong lưu của Hồ Xuân Hương rằng bà là một nữ tử tài sắc vẹn toàn cùng những mối tình bên thơ rượu với Phạm Đình Hổ, Phạm Thái, Phạm Quý Thích, Trần Ngọc Quán và Nguyễn Du. Theo các nhà nghiên cứu, bà mất năm 1822 tại Hà Nội, mặc dù đã tìm kiếm nhiều năm nhưng cho đến nay, ngôi mộ của Hồ Xuân Hương ở đâu và những bí ẩn xoay quanh cuộc đời nhà thơ vẫn là dấu hỏi lớn trong lòng hậu thế. Những bất hạnh trong tình duyên đã giúp Hồ Xuân Hương trở thành nhà thơ phụ nữ Bi kịch của Hồ Xuân Hương bắt đầu khi bà làm lẽ Tổng Cóc, một cường hào có tính ăn chơi và tiêu xài hoang phí nên chẳng bao lâu thì nhà cửa sa sút và cộng thêm việc vợ cả ghen vì ông yêu quý tài nghệ của Hồ Xuân Hương nên bà bỏ đi biệt, chỉ để lại một lá thư từ giã. Sau khi bỏ nhà đi, bà hạ sinh một người con gái nhưng được ba tháng thì chết yểu, Tổng Cóc có tìm đến đòi con nhưng vô vọng. Bà làm bài thơ Khóc Tổng Cóc gửi ông để khóc cho mối tình cũ của mình, hai người xem như đoạn tuyệt tình nghĩa phu thê. “Hỡi chàng ôi hỡi chàng ôi, Thiếp bén duyên chàng có thế thôi. Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé, Nghìn vàng khôn chuộc “ – Khóc Tổng Cóc Sau này bà tiến đến với ông Phủ Vĩnh Tường, tức là Tú tài Phạm Viết Ngạn và sinh cho ông một đứa con tên Phạm Viết Thiệu, thế nhưng hơn hai năm sau thì người chồng này của Hồ Xuân Hương cũng tạ thế. Có hai đời chồng không trọn vẹn đã khiến Hồ Xuân Hương mang tiếng sát phu Hai lần mất chồng đã khiến Hồ Xuân Hương thấm thía nỗi đau của những người phụ nữ phải chịu cảnh cô đơn nên khi nghe tiếng khóc từ bà lang, nhà thơ viết ra nhiều câu thơ thể hiện nỗi xót xa và đồng cảm sâu sắc. “Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì, Thương chồng nên nõi khóc tì ti. Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo, Cay đắng chàng ơi vị quế chi. Thạch nhũ, trần bì sao để lại, Quy thân, liên nhục tẩm mang đi. Dao cầu thiếp biết trao ai nhỉ, Sinh ký chàng ơi, tử đắc quy.” – Bỡn bà lang khóc chồng Có những nhà thơ trung đại lên tiếng bênh vực người phụ nữ như Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn nhưng họ không chân thực bằng Hồ Xuân Hương. Bởi bà đã trải qua nhiều bi kịch trong cuộc đời, nỗi đau đớn ấy đều lắng đọng trên trang thơ sắc sảo của Hồ Xuân Hương mà không ai có thể thay thế được. Nhờ đi qua những sóng gió trong cuộc đời nên tác giả là người có chung tiếng nói và nỗi lòng với phụ nữ thời ấy Nhà thơ từng trải qua hai lần làm lẽ nên bà thấu hiểu được cảm giác của những người phụ nữ cùng cảnh ngộ. Trong bài Lấy chồng chung, Hồ Xuân Hương đã thể hiện rất rõ nỗi niềm chua xót ấy, đồng thời bà cũng lên án chế độ đa thê của xã hội phong kiến. “Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng, Chém cha cái kiếp lấy chồng chung. Năm chừng mười hoạ hay chăng chớ, Một tháng đôi lần có cũng không. Cố đấm ăn xôi xôi lại hỏng, Cầm bằng làm mướn mướn không công. Nỗi này ví biết dường này nhỉ, Thời trước thôi đành ở vậy xong.” – Lấy chồng chung Theo Hồ Xuân Hương thì việc làm lẽ là vô cùng tệ bạc và bất công đối với người phụ nữ. Bà đã kể ra những nỗi khổ khi làm lẽ và cho rằng đó như làm mướn không công cho thấy sự bi phẫn tột độ, kịch liệt lên án chế độ hôn nhân thời ấy. Xã hội phong kiến hà khắc khiến cho người phụ nữ phải luôn chịu đủ mọi thiệt thòi, họ quan niệm rằng đàn bà chưa chồng mà có con như phạm đại tội, bị cạo đầu bôi vôi suốt đời không xuất giá, thậm chí là phải chết. Nhà thơ vô cùng bi phẫn trước những quan niệm hà khắc của xã hội phong kiến Vậy mà đối với Hồ Xuân Hương, bà không những không lên án mà còn cất tiếng nói bênh vực họ. Bởi lẽ nhà thơ nhìn thấy được vẻ đẹp thật sự của những người phụ nữ ấy, đó là thiên chức của người mẹ không thể bỏ con mình. “Không chồng mới chửa ấy mới ngoan, Có chồng mà chửa thế gian sự thường.” – Không chồng mà chửa Mặc dù người phụ nữ phải chịu nhiều bất công và đau khổ như vậy nhưng họ vẫn giữ được sự hiền dịu và nhu mì vốn có của mình. Nhà thơ đã mượn hình ảnh bánh trôi nước để miêu tả vẻ đẹp ngoại hình lẫn phẩm chất của người phụ nữ. Bài thơ Bánh trôi nước được đưa vào chương trình Ngữ văn lớp 7 Với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, Hồ Xuân Hương đã sử dụng ngôn từ một cách điêu luyện để thể hiện sự thông cảm và niềm tự hào đối với vẻ đẹp và tính cách của người phụ nữ Việt Nam. Bà đã để lại nhiều bài thơ có giá trị nghiên cứu ở cả nội dung lẫn nghệ thuật nhờ tài năng và những bất hạnh trong cuộc đời mình. Qua nhiều tác phẩm giàu tính nhân đạo ấy, Hồ Xuân Hương xứng đáng là nhà thơ của phụ nữ trong văn học trung đại Việt Nam. Hồ Xuân Hương được suy tôn là bà chúa thơ Nôm Thơ Hồ Xuân Hương thường được sáng tác theo thể thất ngôn bát cú hoặc thất ngôn tứ tuyệt, thủ pháp vô cùng điêu luyện nhưng chữ Nôm lại có nhiều phần đặc sắc hơn chữ Hán. Bà được Xuân Diệu suy tôn là bà chúa thơ Nôm bởi những tác phẩm xuất sắc và tư tưởng mới mẻ của mình. Hồ Xuân Hương được xem là nhà thơ người kế thừa và phát huy tinh hoa của văn học dân gian một cách triệt để, điển hình nhất là ở hai câu thực trong bài Không chồng mà chửa. “Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc, Phận liễu sao đà nảy nét ngang.” – Không chồng mà chửa Nhà thơ đã mượn nghệ thuật chơi chữ với các chiết tự Hán làm cho câu thơ trở nên đa nghĩa, góp phần thể hiện nội dung trữ tình đặc sắc. Bên cạnh đó, thơ của Hồ Xuân Hương còn được các nhà phê bình nước ngoài đánh giá cao ở đặc sắc nghệ thuật đố thanh giảng tục để lên án xã hội phong kiến. “Mát mặt anh hùng khi tắt gió, Che đầu quân tử lúc sa mưa. Nâng niu ướm hỏi người trong trướng, Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?“ – Vịnh cái quạt I Nhà thơ đã mượn hình ảnh cái quạt để ca ngợi vẻ đẹp người thiếu nữ và miêu tả khát vọng phàm tục của những người đàn ông, bà không xem họ là hiền nhân quân tử chuẩn mực của xã hội mà chỉ đơn giản là kẻ phàm phu tục tử cũng có ham muốn trước cái đẹp. Bà là người thẳng thắn vạch rõ bộ mặt gian trá của những chuẩn mực đương thời Hồ Xuân Hương còn là một nhà thơ trào phúng khi bà cất tiếng cười khinh bỉ lên các tầng lớp thống trị bấy giờ. Bọn vua chúa quyền lực suy cho cùng thì cũng chỉ là những kẻ háo sắc, thích trêu hoa ghẹo nguyệt và xem phụ nữ là trò tiêu khiển của mình. “Càng nực bao nhiêu thời càng mát, Yêu đêm chẳng chán lại yêu ngày. Hồng hồng má phấn duyên vì , một cái này.” – Vịnh cái quạt Hồ Xuân Hương còn là một trong những nhà thơ có công trong việc Việt hóa thể thơ Đường luật vì bà không tuân theo hệ thống ước lệ của thơ cổ mà đột phá theo cách riêng của mình. Khi tìm đến bài Tự tình II thì sẽ bắt gặp được những từ ngữ vô cùng bình dị, khác xa với ngôn từ uyên bác mà thơ Đường quy định, nó có sức gợi hình độc đáo và mới mẻ. Bài thơ Tự tình II được đưa vào chương trình Ngữ văn lớp 11 Có lẽ vì vậy mà khi bàn về Hồ Xuân Hương, nhà thơ Xuân Diệu đã đưa ra nhận định “Lòng Xuân Hương có lửa, tay Xuân Hương có điện, nên các chữ đều sống cả lên, nó có thể bò lổm ngổm, có thể mấp máy, có thể bay, có thể duỗi, có thể khom khom, ngửa ngửa, nó có thể chũm chọe, hi ha, cốc om, khua, vỗ, nó có thể um, xoe, xóe, loét, rì; nó có thể nối nhau thành chuỗi vần vang động bom, chòm, om, mòm, tom, hoặc ọp ẹp heo, leo, kheo, teo, lèo; chúng ta có thể đố ai tìm được trong thơ Hồ Xuân Hương những chữ nào mà âm thanh bẹp dí, những chữ chết nào đứng trơ không cựa quậy ở trong câu. Đây không phải là kỹ thuật đâu! Đấy là tâm hồn truyền sức sống cho ngôn ngữ.” Hồ Xuân Hương thực sự là một tài năng thi ca xuất chúng của thời đại, bà không chỉ có những tư tưởng vượt ra khỏi khuôn khổ lễ giáo phong kiến mà còn phá cách trong lối làm thơ. Những điểm độc đáo và mới mẻ trong thơ Hồ Xuân Hương không những giúp cho văn đàn Việt Nam trở nên phong phú mà còn góp phần vào việc nghiên cứu của các nhà phê bình. Hồ Xuân Hương thực sự xứng danh bà chúa thơ Nôm của Việt Nam. Ngàn thu vẫn lưu danh hậu thế Hồ Xuân Hương còn là một nhân vật vô cùng bí ẩn, có những câu hỏi xoay quanh cuộc đời của bà qua nhiều năm tìm tòi và nghiên cứu vẫn chưa tìm ra được kết quả chính xác. Có giai thoại cho rằng Hồ Xuân Hương từng là tình nhân của đại thi hào Nguyễn Du qua bài thơ mà bà viết như sau “Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung, Mượn ai tới đấy gửi cho cùng. Chữ tình chốc đã ba năm vẹn, Giấc mộng rồi ra nửa khắc không. Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập, Phấn son càng tủi phận long đong. Biết còn mảy chút sương đeo mái, Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng trong.” Bài thơ có lời đề từ là gửi Hầu Nghi Xuân Tiên Điền Nhân tức là Nguyễn Du, theo các nhà phân tích thì họ có mối tình kéo dài đến ba năm nhưng đó cũng chỉ giả thiết. Bởi câu chuyện của họ không có sách vở nào ghi chép và nó đã trôi qua hàng trăm năm khiến cho việc tìm kiếm vô cùng khó khăn. Dẫu vậy thì Hồ Xuân Hương vẫn là một nhà thơ lớncủa nữ quyền thời phong kiến trong văn học trung đại Việt Nam. Sự sáng tạo trong phong cách thơ ca đã giúp Hồ Xuân Hương được tôn bà chúa thơ Nôm của dân tộc Việt. Hồ Xuân Hương là tượng đài bất tử của thơ Việt Những tác phẩm của bà có những đóng góp rất lớn cho việc nghiên cứu, các bài thơ được đưa vào chương trình Ngữ văn để bạn đọc có thể cảm nhận những cái hay cái đẹp của nghệ thuật ngôn từ và nội dung giàu tính nhân đạo, từ đó sẽ tự hào về một thời đại từng có Hồ Xuân Hương tài năng như thế! Thúy Trân Thơ Trào Phúng Là Gì ❤️️ 50+ Bài Thơ Trào Phúng Hay Nhất ✅ Chia Sẻ Chùm Thơ Đặc Sắc Của Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Nguyễn Khuyến. Thơ Trào Phúng Là GìCách Làm Thơ Trào PhúngNhững Bài Thơ Trào Phúng Hay NhấtTuyển Tập Thơ Trào Phúng Về Tình Yêu VuiChùm Thơ Trào Phúng Hiện ĐạiChùm Thơ Trào Phúng Về Phụ Nữ Đặc SắcThơ Trào Phúng Của Hồ Xuân Hương Bất HủÁng Thơ Trào Phúng Của Tú Xương Độc ĐáoThơ Trào Phúng Nguyễn Khuyến Chọn LọcChùm Thơ Trào Phúng Của Tú Mỡ Ấn Tượng Nội dung đầu tiên của bài viết hôm nay, xin mời bạn đọc cùng tìm hiểu và khám phá xem Thơ Trào Phúng Là Gì nhé. Thơ trào phúng tiếng Pháp poésie satirique là một thể thơ thuộc loại trào phúng, dùng tiếng cười để xây dựng tư tưởng, tình cảm cho con người, chống lại cái xấu xa, lạc hậu, thoái hóa, rởm đời, hoặc để đả kích, vạch mặt kẻ thù, đánh vào những tư tưởng, hành động mang bản chất thù địch với con người. Cách Làm Thơ Trào Phúng Về Cách Làm Thơ Trào Phúng, tác giả cần vạch mâu thuẫn của sự vật – mâu thuẫn giữa cái bên ngoài và cái thực chất bên trong – để làm cho người đọc nhận thấy sự mỉa mai, trào lộng của sự vật là cách làm chủ yếu của thơ trào phúng; cho nên thơ trào phúng thường sử dụng lối nói phóng đại, so sánh, chơi chữ dí dỏm hay lời nói mát mẻ sâu cay. Có thể chia thơ trào phúng ra làm hai loại thơ châm biếm và thơ đả kích. Thơ châm biếm nhằm mục đích giáo dục xã hội, giáo dục con người bằng nụ cười nhẹ nhàng mà kín đáo, dí dỏm mà sâu sắc. Nụ cười đó bao hàm cả việc phê phán lẫn tinh thần xây đả kích nhằm lột mặt nạ kẻ thù bằng nụ cười có sức công phá mãnh thơ tiêu biểu cho dòng thơ trào phúng đó là Tú Xương, Tú Mỡ, Đỗ Phồn, Đồ Bì,…. Tham khảo chi tiết 🍃Cách Làm Thơ🍃 50+ Bài Thơ Tự Sáng Tác Hay Những Bài Thơ Trào Phúng Hay Nhất Ngay sau đây xin chia sẻ đến bạn đọc Những Bài Thơ Trào Phúng Hay Nhất Áo bông che bạnTác giả Tú Xương Hỡi ai, ai có thương không?Đêm mưa, một mảnh áo bông che đầuVì ai, ai có biết đâu?Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô?Người đi Tam Đảo, Ngũ HồKẻ về khóc trúc Thương Ngô một mìnhNon non nước nước tình tìnhVì ai ngơ ngẩn cho mình ngẩn ngơ! Sư hoạnh dâmTác giả Hồ Xuân Hương Cái kiếp tu hành nặng đá đeo,Làm chi một chút tẻo tèo từ cũng muốn về Tây Trúc,Trái gió cho nên phải lộn lèo. Ghét tếtTác giả Tú Mỡ Thiên hạ sao ưa tết?Hẳn vì mặc áo đẹpTớ đây bảo Tết phiềnGhét!Tiêu pha thật tốn tiềnChè chén cứ liên miênHết Tết đâm lo sợĐiên!Mồng một đi mừng tuổiChúc nhau nghe inh ỏiToàn câu sáo rác taiThôi!Mừng tuổi đèo phong baoNăm xu lại một hàoAi sinh cái lệ đó?Hao!Kiết xác như vờ rồiCòn ngông đốt pháo kêu Tiền hỡi tiềnDại! Cái giếngTác giả Hồ Xuân Hương Ngõ ngay thăm thẳm tới nhà ông,Giếng tót thanh thơi rất lạ trắng phau phau hai ván ghép,Nước trong leo lẻo một dòng gà lún phún leo quanh mép,Cá diếc le te lội giữa ấy thanh tân ai đã biết,Đố ai dám thả nạ rồng rồng. Bạn Đến Chơi NhàTác giả Nguyễn Khuyến Đã bấy lâu nay bác tới thời đi vắng, chợ thời sâu nước cả, khôn chài cá,Vườn rộng rào thưa, khó đuổi chửa ra cây, cà mới nụ,Bầu vừa rụng rốn, mướp đương trò tiếp khách, trầu không có,Bác đến chơi đây ta với ta. Hang Cắc CớTác giả Hồ Xuân Hương Trời đất sinh ra đá một chòm,Nứt làm đôi mảnh hổng hòm hầm rêu mọc trơ toen hoẻn,Luồng gió thông reo vỗ phập nước hữu tình rơi lõm bõm,Con đường vô ngạn tối om ai đẽo đá tài xuyên tạc,Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm. Chùa Quán SứTác giả Hồ Xuân Hương Quán sứ sao mà cảnh vắng teo,Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?Chày kình tiểu để suông không đấm,Tràng hạt vãi lần đếm lại banh không kẻ khua tang mít,Trưa trật nào người móc kẽ kiếp đường tu sao lắt léo,Cảnh buồn thêm ngán nợ tình đeo. Muốn Lấy ChồngTác giả Nguyễn Khuyến Bực gì bằng gái trực phòng không?Tơ tưởng vì chung một tấm gác rồng mây ngao ngán đợi,Bên trời cá nước ngẩn ngơ vui, lắm lúc cười cười gượng,Giả dại, nhiều khi nói nói biết có chồng như có cánh,Giang sơn gánh vác nhẹ bằng lông. Miếu Sầm thái thúTác giả Hồ Xuân Hương Ghé mắt trông lên thấy bảng treo,Kìa đền Thái thú đứng cheo đây đổi phận làm trai được,Thì sự anh hùng há bấy nhiêu. Vợ chồng ngâuTác giả Tú Xương Tục truyền tháng bảy mưa Ngâu,Con trời lấy chú chăn trâu cũng là duyên, hai thời là nợ,Sợi xích thằng ai gỡ cho ra?Vụng về cũng thể cung nga,Trăm khôn nghìn khéo chẳng qua mục là sợ muộn chồng chăng tá?Hơi đâu mà kén cá chọn canh!Lấy ai, ai lấy cũng đành,Rể trời đâu cả đến anh áo buồm. Lỡm học tròTác giả Hồ Xuân Hương Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ,Lại đây chị dạy lối làm non ngứa lợi châm hoa rữa,Dê bé buồn sừng húc giậu thưa. Chia sẻ trọn bộ 🌱Thơ Châm Biếm Người Nhiều Chuyện ❤️️ 30+ Bài Mỉa Mai Hay Tuyển Tập Thơ Trào Phúng Về Tình Yêu Vui Nhất định đừng bỏ qua trọn bộ Tuyển Tập Thơ Trào Phúng Về Tình Yêu Vui bên dưới Lời Gái GoáTác giả Nguyễn Khuyến Chàng chẳng biết gái này gái goá,Buồn nằm suông, suông cả áo thay cái mụ tá chàng trẻ tuổi ép làm lứa đôi. Chàng tuổi trẻ chơi bời quên nhọc,Gái già này sức vóc được bao?Muốn sao, chiều chẳng được tuy sum họp, sau nào được lâu? Lấy chồng vốn nhờ câu ăn mặc,Chẳng ngờ rằng đói rách hổ ngươi;Vốn xưa cha mẹ dặn lời,Tư bôn lại phải kẻ cười người chê. Hỡi mụ hỡi, thương chi thương thế?Thương thì hay, nhưng kế chẳng thì gạo vải cho vay,Lấy chồng thì gái goá này xin van! Ba cái lăng nhăngTác giả Tú Xương Một trà, một rượu, một đàn bàBa cái lăng nhăng nó quấy taChừa được cái gì hay cái nấyCó chăng chừa rượu với chừa trà! Nàng thơ của tôiTác giả Tú Mỡ Tú tôi kết bạn với nàng ThơCô ả xinh xinh tính ỡm ờNhí nhảnh nhưng mà hơi khó nếtHay dằn hay dỗi, ít tơ mơ…Những sớm bình minh buổi đẹp trờiCây rung rinh lá, cỏ xanh tươiÊm đềm tôi thấy lòng thơ tháiẤy lúc cô nàng quấn quít thỉnh đi đôi, bước dịu dàngĐồng quê cùng ngắm cảnh mênh mangTrông mây, nhìn bướm, nghe chim hótThi hứng lòng tôi thấy chứa lúc đưa chân đến sở làmVào đời thực tế hết mơ màng!Vô tình cô ả theo chàng TúTới chốn làm ăn, cảnh rộn máy rào rào tựa pháo ranNhững hồi chuông bấm tiếng kêu vangKẻ đi tất tưởi, người cặm cụiGiấy má hồ sơ để ngổn việc hằng ngày Tú vác raGiấy tờ sổ sách với “măng đa”Cô nàng ngơ ngác kề tai hỏi“Anh Tú làm chi, chẳng phải thơ!”Buồn thỉu buồn thiu, Tú băn khoănRằng “Việc anh làm kiếm gạo ănVương lấy nợ đời nên phải trótKéo cày lận đận đã bao này chẳng phải để đôi taThơ thẩn cùng nhau chuyện phất phơNàng hãy dằn lòng lui gót vậyHẹn hò khi khác sẽ tơ mơ…”Cô nàng phụng phịu kém vui tươiNhếch một nụ cười rất mỉa maiCong cớn nguýt dài, đi mất hútMặc anh ký cóp ngẫn ngơ tiếc tôi đành chỉ nhún vaiChúi đầu làm trọn việc sinh nhaiCho qua ngày ấy sang ngày khácBa chục năm trời kiếp khổ mặc nàng Thơ với gió giăngChơi non chơi nước dạo lăng băngCó khi vắng mặt lâu lâu lắmBỏ lửng nhà thơ chẳng đãi khi cao hứng bất thình lìnhNàng lại về chơi với bạn tìnhĐem vẻ vui tươi và nhí nhảnhCho mình an ủi cái vong linh. Khóc chồng làm thuốcTác giả Hồ Xuân Hương Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì,Thương chồng nên phải khóc tì ngào thiếp nhớ mùi cam thảo,Cay đắng chàng ôi vị quế nhũ trần bì sao để lại,Quy thân liên nhục tẩm đem cầu thiếp biết trao ai nhỉ,Sinh ký chàng ôi tử tắc quy. Vịnh nằm ngủTác giả Hồ Xuân Hương Mùa hè hây hẩy gió nồm đông,Tiên nữ nằm chơi quá giấc trúc chải cài trên mái tóc,Yếm đào trễ xuống dưới nương gò Bồng Đảo sương còn ngậm,Một lạch Đào Nguyên suối chửa tử dùng dằng đi chẳng dứt,i thì cũng dở ở sao xong. Cùng tìm hiểu tuyển tập 🍀Thơ Châm Biếm Đàn Bà Ngoại Tình🍀 30+ Bài Về Đàn Bà Hư Chùm Thơ Trào Phúng Hiện Đại Xin tổng hợp cho bạn đọc thêm Chùm Thơ Trào Phúng Hiện Đại cực ấn tượng Lừa đảoTác giả Hải Đăng Nếu một lần bị lừaSẽ một lần bớt dạiNếu thêm một lần nữaSẽ một lần cứng cáp Nếu vài lần bị lừaNgười sẽ lỳ phản ứngCảnh giác là nón đỡPhòng vệ dần bản năng Ai chẳng may bị lừaSẽ đứng lên bước tiếpKẻ lừa, kiếm ăn mãiSẽ nhổ râu trong tù. Đại thầy thuốc bị bắt!Tác giả Hải Đăng Xôn xao chuyện thầy thuốcĂn chặn tiền bệnh nhânCái án to cột đìnhNâng thiết bị miếng mỏ Cái quan trọng ông toTo danh hiệu cao quýMà lòng dạ hiểm độcNgỡ chuyện đùa trần gian Nghĩ đâm thêm bực tứcVà ngán ngẩm đi thôi1 tâng 5 sút bóngNhận cả đống lương tâm? Mai ngày ngồi trong khámĐếm lá rụng vàng rơiHỏi bao người khốn khóLệ nào rớt quanh đây! Chuột Khóc MèoTác giả Đinh Kim Chung Vào tháng Mão, năm gà, ngày TýChuột tao say bí tỉ rời hangNghe tin Mèo đến thiên đàngTao không cầm nổi hai hàng lệ rơi Này mèo hỡi! Mày xơi thịt lắmBụng trương phềnh, lại khắm và chuaMày toàn chén thức ăn thừaChê tao vừa nhỏ lại vừa bị hôi Đời chuột quả là đời vô phướcTuổi thọ luôn phụ thuộc vào màyRất may thời thế đổi thayChứ không chắc chắn là mày nuốt tươi Mày được sống với người, với chủĐôi khi còn được ngủ chung chănĐược coi võ thuật khỏa thânCòn tao chui lủi khó khăn cực kỳ Mày hay dọa tao thì mất mậtGiải phẫu tao đúng thật có đâuCũng may không bọn nhà giàuNó ngâm mật với rượu màu càng toi Mày không sợ thiệt thòi chi cảChỉ là phim hoạt họa buồn gìMèo Tôm sợ chuột JeryCòn trong thực tế mày đì chết luôn Loài người mỗi lúc buồn, lúc khổHọ thường xơi “tiểu hổ” rượu taTìm mày họ mổ phanh raThân người cho lắm, chết bà mày chưa! Tao rất sợ ngày xưa trở lạiĐói thối mồm lấy cái chi xơi?Rồi mày lại chén chuột thôiKhóc mày nhưng bụng mừng ơi là mừng! Chuyện Của ẾchTác giả Đinh Kim Chung Ếch ta nằm sấp đã quenHôm nay nằm ngửa nhìn lên khung trờiTự dưng bụng chướng xì hơiPít tông dồn nén mấy lời chua ngoa Nhân gian ai cũng chửi ta“Ếch ngồi đáy giếng” nhìn ra lạc loàiLại nghe “nước đổ lá khoai”Đành leo lên đó nằm dài cho khô Cả đời ếch…cóc cần ô“Nhẵn như đít ếch” ướt khô cũng thừaNhưng vì nhân tiện trời mưaẾch xin ôn lại chuyện chưa kể rằng Tình hình trong…nước rất căngCó loài đỉa đói không răng cắn ngườiChúng thường ham thích máu tươiSống dai bị cắt làm mười chẳng sao Bọn tôm thì thích nhảy caoĐuôi cong đít lộn lên đầu thường xuyênBọn lươn, bọn chạch da trơnCả đời luồn lách dưới bùn đen kia Bọn Trê lợi dụng râu riaĐể che đôi ngạnh chuyên chìa ra đâmBọn ba ba lặn sủi tămNgậm mồm, sấm đánh cái rầm mới thôi Bọn trai, sò, hến, ốc nhồiLại dùng vỏ cứng thay đôi mắt mùBọn cua ngang quá hóa nguHai càng tám cẳng chẳng thu vào giùm Thế còn bọn chuối lum khumNhiều khi đắm đuối vì đùm bọc conĐòng đong, cân cấn, rô ronChép, trôi, mè, trắm…vẫn còn khá đông Bọn này sống cũng như khôngChỉ quăng mẻ lưới là xong cuộc đờiẾch ta chán nước lắm rồiLên đây nằm ngửa nhìn trời xem sao Trên bờ chẳng tốt là baoChim muông cũng muốn bổ nhào xơi taVài con rắn lưỡi thè raVo ve lũ muỗi như là trấu bay Lũ ruồi cũng đến bu đầyMấy đàn kiến cỏ đợi ngày ếch thăng…Cực kỳ căng! Cực kỳ căngPhải chăng ở nước? Phải chăng lên trời? Ếch ta vắt cẳng xì hơiTiếng kêu …ộp ộp mấy lời ai nghe?! Phố MộTác giả Đinh Kim Chung Một bữa về quê nắng xế tàQua vùng lạnh lẽo cánh đồng maKhói nhang quạnh quẽ ơ thờ khóiPhố mộ lom khom những cụ già Lạnh gáy hồn ai cứ rập rìnhCánh đồng ma chắc đã nhiều linhNgười dương dẫu khổ, người âm sướngNhững dãy mồ hoang mới trở mình Có mộ người khôn họ bảo rồDo hồi chửa chết chống tham ôBởi thua nghĩ quẩn lao đầu hốÔm hận ngàn thu xuống đáy mồ! Mộ kẻ làm quan nổi một thờiNhưng vì muốn giết bỏ bầy dơiTự nhiên đổ bệnh u phình tướngDại quá! Cành que lại chống giời Có mộ chàng trai khỏe cực kỳNhưng nghiền thuốc phiện mới làm biTự dưng máu dãi sùi ra mépNhớ bậu mà không kịp nói gì Phía mộ hai thằng bố đại giaXây to khủng khiếp tựa như nhàTậu xe phân khối đua đường hẹpHúc phải xe bồn đứt cổ ra Có cặp tình nhân tưởng vĩnh hằngGia đình chê hộ đối môn đăng“Đồi thông hai mộ” quàng tay hátLên tận tầng 5 nhảy cái ngoằng Mộ mấy học sinh bởi đến trườngNhưng cầu không có nghĩ mà thươngLội sông lũ cuốn nên hà báLấy thủy cung thay chốn học đường Có mộ non vừa mới lấp xongTrạm y tế xã họ tiêm phòngTrẻ đang khỏe mạnh lăn đùng ngápKết luận lâm sàng bệnh mới vong Phố mộ giờ đây ít cụ giàQuê nghèo họ bảo giống làng maĐồ buôn bán chạy thu lời nhấtCó lẽ là… xôi với thịt gà… Gửi tới bạn chùm 🌿Thơ Châm Biếm🌿 Tuyển Tập 100+ Bài Hay Chùm Thơ Trào Phúng Về Phụ Nữ Đặc Sắc Mời bạn đọc cùng tham khảo thêm Chùm Thơ Trào Phúng Về Phụ Nữ Đặc Sắc Thương Ôi Phận GáiTác giả Hồ Xuân Hương Thương ôi phận gái cũng là chồngGhét bỏ nhau chi hỡi Nguyệt ôngRồng tắm ao tù từng phận tủiMưa gieo xuống giếng uổng lòng mongXót thân hoa nở song lầm cátThẹn mặt trần ai đứng giữa vòngÂu hẳn tiền nhân sao đấy táThôi đành một kiếp thế cho xong Thương Phận Người Đàn BàTác giả Hồ Xuân Hương Hỡi chị em ơi có biết khôngMột bên con khóc một bên cu lổm ngồm bò trên bụng,Thằng bé hu hơ khóc dưới cả những là thu với vénVội vàng nào những bống cùng con cái nợ là như thế,Hỡi chị em ơi có biết không ? Quả mítTác giả Hồ Xuân Hương Thân em như quả mít trên cây,Da nó xù xì múi nó tử có yêu xin đóng cọc,Đừng mân mó nữa nhựa ra tay. Bánh trôi nướcTác giả Hồ Xuân Hương Thân em thời trắng phận em tròn,Bảy nổi ba chìm mấy nước nát mặc dầu tay kẻ nặn,Nhưng em vẫn giữ tấm lòng son. Không chồng mà chửaTác giả Hồ Xuân Hương Cả nể cho nên hoá dở dang,Sự này có thấu hỡi chăng thiên chưa thấy nhô đầu dọc,Phận liễu sao mà nảy nét tội trăm năm chàng chịu cả,Chữ tình một khối thiếp xin chi miệng thế lời chênh lệch,Chẳng thế nhưng mà thế mấy ngoan. Lấy chồng chungTác giả Hồ Xuân Hương Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng,Chém cha cái kiếp lấy chồng chừng mười hoạ hay chăng chớ,Một tháng đôi lần có cũng đấm ăn xôi xôi lại hỏng,Cầm bằng làm mướn mướn không này ví biết dường này nhỉ,Thời trước thôi đành ở vậy xong. Vô âm nữTác giả Hồ Xuân Hương Mười hai bà mụ ghét gì nhau,Đem cái xuân tình cắm ở rích thây cha con chuột nhắt,Vo ve mặc mẹ cái ong ai biết được vông hay chóc,Nọ kẻ chia ra cuống mấy thế thời thôi thôi cũng rảnh,Trăm năm càng khỏi tiếng làm dâu. Có thể bạn sẽ cần 🌻Những Câu Ca Dao Châm Biếm Người Phụ Nữ🌻 hay nhất Thơ Trào Phúng Của Hồ Xuân Hương Bất Hủ Bên dưới là chùm Thơ Trào Phúng Của Hồ Xuân Hương Bất Hủ vô cùng đặc sắc mà bạn đọc không nên bỏ lỡ! Chế sưTác giả Hồ Xuân Hương Chẳng phải Ngô chẳng phải ta,Đầu thì trọc lốc áo không dâng trước mặt dăm ba phẩm,Vãi nấp sau lưng sáu bảy cảnh khi tiu khi chũm choẹ,Giọng hì giọng hỉ giọng hi lâu có nhẽ lên sư cụ,Ngất nghểu toà sen nọ đó mà. Đánh cờTác giả Hồ Xuân Hương Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc,ốt đèn lên đánh cuộc cờ rằng đấu trí mà chơi,Cấm ngoại thuỷ không ai được tướng sĩ dàn ra cho hết,ể đôi ta quyết liệt một thiếp trắng, quân chàng đen,Hai quân ấy chơi nhau đà đã mới vào chàng liền nhảy ngựa,Thiếp vội vàng vén phứa tịnh xe hà, chàng gác hai bên,Thiếp thấy bí, thiếp liền ghểnh lừa thiếp đương khi bất ý,em tốt đầu dú dí vô cung,Thiếp đang mắc nước xe lồng,Nước pháo đã nổ đùng ra bảo chịu, thiếp rằng chẳng chịu,Thua thì thua quyết níu lấy vui nước nước non non,Khi buồn lại giở bàn son quân ngà. Đưa ĐòTác giả Hồ Xuân Hương Chú lái kia ơi, biết chú rồi,Qua sông rồi lại đấm ngay bòi!Chèo ghe vừa khỏi dòng sông ngược,Đấm cọc ngay vào ngấn nước biết lên bờ đà vỗ đít,Nào khi giữa khúc đã co đò nên nghĩa sao không nhớ?Sang nữa hay là một chuyến thôi? Vịnh Đời NgườiTác giả Hồ Xuân Hương Trăm năm ba vạn sáu ngàn ngàyDẫu có ngàn vàng khó đổi thayTrong núi ngàn năm cây vẫn cóDưới trần trăm tuổi dễ không aiNghĩ đường danh lợi lòng thêm chánThấy kẻ gian ngoan bụng lại đầyĐắng xót ghê thay mùi tục lụyBực mình theo Cuội tới cung mây Đá Ông Bà ChồngTác giả Hồ Xuân Hương Khéo khéo bày trò tạo hoá côngÔng Chồng đã vậy lại Bà ChồngTầng trên tuyết điểm phơ đầu bạcThớt dưới sương pha đượm má hồngGan nghĩa dãi ra cùng chị NguyệtKhối tình cọ mãi với non sôngĐá kia còn biết xuân già giặnChả trách người ta lúc trẻ trung Tát NướcTác giả Hồ Xuân Hương Đang cơn nắng cực chửa mưa tè,Rủ chị em ra tát nước đẽo chiếc gầu ba góc chụm,Lênh đênh một ruộng bốn bờ xòm đáy nước mình nghiêng ngửa,Nhấp nhổm bên ghềnh đít vắt việc làm ăn quên cả mệt,Dạng hang một lúc đã đầy phè. Ốc NhồiTác giả Hồ Xuân Hương Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồiĐêm ngày lăn lóc đám cỏ hôiQuân tử có thương thì bóc yếmXin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi Dệt Cửi ĐêmTác giả Hồ Xuân Hương Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phauCon cò mấp máy suốt đêm thâuHai chân đạp xuống năng năng nhắcMột suốt đâm ngang thích thích mauRộng hẹp nhỏ to vừa vặn cảNgắn dài khuôn khổ vẫn như nhauCô nào muốn tốt ngâm cho kỹChờ đến ba thu mới dãi mà Cái QuạtTác giả Hồ Xuân Hương Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừaDuyên này tác hợp tự ngàn xưaChành ra ba góc da còn thiếuKhép lại đôi bên thịt vẫn thừaMát mặt anh hùng khi tắt gióChe đầu quân tử lúc sa mưaNâng niu ướm hỏi người trong trướngPhì phạch trong lòng đã sướng chưa Đánh đuTác giả Hồ Xuân Hương Bốn cột khen ai khéo khéo trồng,Người thì lên đánh kẻ ngồi trông,Trai co gối hạc khom khom cậtGái uốn lưng ong ngửa ngửa mảnh quần hồng bay phấp phới,Hai hàng chân ngọc duỗi song xuân đã biết xuân chăng nhổ đi rồi, lỗ bỏ không! Chiếc BáchTác giả Hồ Xuân Hương Chiếc bách buồn về phận nổi nênh,Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh khoang tình nghĩa dường lai lángNửa mạn phong ba luống bập bềnhCầm lái mặc ai lăm đỗ bếnDong lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnhấy ai thăm ván cam lòng vậyNgán nỗi ôm đàn những tấp tênh! Giới thiệu đến bạn đọc chùm 🌻 Thơ Hồ Xuân Hương Châm Biếm 🌻 trào phúng Áng Thơ Trào Phúng Của Tú Xương Độc Đáo Chần chừ gì nữa mà không xem ngay những Áng Thơ Trào Phúng Của Tú Xương Độc Đáo Than thânTác giả Tú Xương Kể đã ba mươi mấy tuổi rồi,Tôi ngồi tôi nghĩ cái thằng khoa hương thí không đâu cả,Ba luống vườn hoang bán sạch cứ lệ ăn đong bữa một,Vợ quen dạ đẻ cách năm thang lên hỏi ông trời nhẽTrêo ghẹo người ta thế nữa thôi? Thương vợTác giả Tú Xương Quanh năm buôn bán ở mom sông,Nuôi đủ năm con với một lội thân cò khi quãng vắng,Eo sèo mặt nước buổi đò duyên, hai nợ, âu đành phận,Năm nắng, mười mưa, dám quản mẹ thói đời ăn ở bạcCó chồng hờ hững cũng như không! Văn tế sống vợTác giả Tú Xương Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợTiếng có miếng không, gặp chăng hay chớMặt nhẵn nhụi, chân tay trắng trẻo, ai dám chê rằng béo rằng lùn?Người ung dung, tính hạnh khoan hoà, chỉ một nỗi hay gàn hay dở!Đầu sông bãi bến, đua tài buôn chín bán mườiTrong họ ngoài làng, vụng lẽ chào dơi nói thợGần xa nô nức, lắm gái nhiều traiSớm tối khuyên răn, kẻ thầy người tớÔng tu tác cửa cao nhà rộng, toan để cho dâuAnh lăm le bia đá bảng vàng, cho vang mặt vợ Thế màMình bỏ mình đi, mình không chịu ởChẳng nói chẳng rằng, không than không mình thấy tớ nay Hàng Thao, mai phố Giấy mà bụng mình ghen?Hay mình thấy tớ sáng Tràng Lạc, tối Viễn Lai, mà lòng mình sợ?Thôi thôiChết quách yên mồSống càng nặng nợChữ nhất phẩm ơn vua vinh tứ, ngày khác sẽ hayDuyên trăm năm ông Nguyệt xe tơ, kiếp này đã lỡMình đi tu cho thành tiên thành phật, để rong chơi Lãng Uyển, Bồng HồTớ nuôi con cho có rể có dâu, để trọn vẹn đạo chồng nghĩa vợ Sông LấpTác giả Tú Xương Sông kia rày đã nên đồng,Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô nghe tiếng ếch bên tai,Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò. Đánh tổ tômTác giả Tú Xương Bực chẳng nhẽ anh hùng khi vị ngộ,Như lúc đen chơi cuộc tổ tôm,Bài trạm thành cuối cánh phỗng ầm ầm,Ngồi thôi chẳng bốc quân rác có lúc không chi thì bát sách,Cũng có khi bạch định bốc yêu hồng;Cất bài lên ông lão vẫn lẩn vòng,Không đâu cả gặp kề năm bảy có ván tôm lèo lên chờ rộng,Vớ phải thằng bạch thủ phỗng tay ghê thay đen thực là đen!Sắc như mác cũng thua thằng vận mắn nhẽ hữu duyên năng tái ngộ,Bĩ cực rồi đến độ thái lai;Tiếng tam khôi chi để nhường ai,Hết bạch lại hồng, thông mãi những kẻ tay trên ban nãy,Đến bây giờ thay thẩy dưới tay ta;Tiếng bài cao lừng lẫy khắp gần xa,Bát vạn ấy người ta ai dám mới biết tổ tôm có đen thì có anh hùng vị ngộ có lo chi;Trước sau, sau trước làm gì? Năm mới chúc nhauTác giả Tú Xương Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhauChúc nhau trăm tuổi bạc đầu này ông quyết đi buôn cối,Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu. Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàuTrăm, nghìn, vạn mớ để vào đâu?Phen này, ắt hẳn gà ăn bạc,Đồng rụng, đồng rơi, lọ phải cầu. Lẳng lặng mà nghe nó chúc sangĐứa thì mua tước, đứa mua này ông quyết đi buôn lọng,Vừa bán vừa la cũng đắt hàng. Lẳng lặng mà nghe nó chúc conSinh năm đẻ bảy được vuông phường chật hẹp, người đông đúc,Bồng bế nhau lên nó ở non. Bắt chước ai ta chúc mấy lờiChúc cho khắp hết ở trong quan, sĩ, thứ, người muôn nước,Sao được cho ra cái giống người. Đừng vội bỏ qua ❤️️ Thơ Châm Biếm Đàn Ông ❤️️ Bội Bạc, Đa Tình Thơ Trào Phúng Nguyễn Khuyến Chọn Lọc Nhất định đừng bỏ lỡ tuyển tập Thơ Trào Phúng Nguyễn Khuyến Chọn Lọc Làm Ruộng Chốn QuêTác giả Nguyễn Khuyến Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua,Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất thuế quan Tây, phần trả nợ,Nửa công đứa ở, nửa thuê trưa dưa muối cho qua bữa,Chợ búa trầu chè chẳng dám kiệm thế mà không khá nhỉ,Bao giờ cho biết khỏi đường lo? Cua Chơi TrăngTác giả Nguyễn Khuyến Vằng vặc đêm thu ánh xế chừng,Ham thanh, cua mới muốn chơi mai lách ngược qua dòng biếc,Ghé yếm bò ngang nhởn bóng quế chờn vờn hương mới bén,Vườn đào thoang thoảng gió như mai cá nước cua vui phận,Trăng muốn tìm cua, dễ được chăng? Anh giả điếcTác giả Nguyễn Khuyến Trong thiên hạ có anh giả điếc,Khéo ngơ ngơ ngác ngác, ngỡ là ngây!Chẳng ai ngờ “sáng tai họ, điếc tai cày”,Lối điếc ấy sau này em muốn trung đàm tiếu, nhân như mộcDạ lí phan viên, nhĩ tự vườn sau, khi ao trước; khi điếu thuốc, khi miếng chè chuyên năm bảy chén, khi Kiều lẩy một đôi câu;Sáng một chốc, lâu lâu rồi lại điếcĐiếc như thế ai không muốn điếc?Điếc như anh dễ bắt chước ru mà!Hỏi anh, anh cứ ậm à. Chợ ĐồngTác giả Nguyễn Khuyến Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng,Năm nay chợ họp có đông không ?Dở trời, mưa bụi còn hơi rượu, tường đền được mấy ông ?Hàng quán người về nghe xáo xác,Nợ nần năm hết hỏi lung ba ngày nữa tin xuân trúc nhà ai một tiếng đùng. Hoài CổTác giả Nguyễn Khuyến Nghĩ chuyện đời xưa cũng nực cười,Sự đời đến thế, thế thời thôi!Rừng xanh núi đỏ hơn ngàn dặm,Nước độc ma thiêng mấy vạn rỗng ruột gan trời đất cả,Phá tung phên giậu hạ di thôi đến thế thời thôi nhỉ,Mấy trắng về đâu nước chảy xuôi. Chế Ông Đồ Cự LộcTác giả Nguyễn Khuyến Văn hay chữ tốt ra tuồng,Văn dai như chão, chữ vuông như thầy như vẻ con tôm,Vẻ tay ngoáy cám, vẻ mồm húp lịch sự ai bằng thầy Cự Lộc,Vẻ cô đầu nói móc có vài câuAnh chẳng sang, mà cũng chẳng bao ních, rận bâu quanh chiếu;Khăn nhuộm lờ lờ mùi nước điếu,Nón sơn không méo cũng không vải thô, ngại giặt ngả màu son,Giày cóc gặm, nhặt dây đàn khâu lưu ấy, mà tình tính ấy,Đến cô đầu, vẫn thấy lả lơi bông,Xinh thay diện mạo anh hùng! Chế Học Trò Ngủ GậtTác giả Nguyễn Khuyến Trò trẹt chi bay học cạnh thầy,Gật gà gật gưỡng nực cười thay!Giọng khê nồng nặc không ra tiếng,Mắt lại lim dim nhắp đã nổi đâu đây la liệt đảo,Ma men chi đấy tít mù thường bắt chước Chu Y đóQuyển có câu thần vậy gật ngay. Chừa RượuTác giả Nguyễn Khuyến Những lúc say sưa cũng muốn chừa,Muốn chừa nhưng tính lại hay ưa nên nỗi không chừa được nhưng mà cũng chẳng chừa. Gửi thêm đến bạn tham khảo 🌼Những Câu Thơ Nói Về Trọng Nam Khinh Nữ🌼 100+ Câu Ca Dao Chùm Thơ Trào Phúng Của Tú Mỡ Ấn Tượng Tiếp tục bài viết là Chùm Thơ Trào Phúng Của Tú Mỡ Ấn Tượng Khóc người vợ hiềnTác giả Tú Mỡ Bà Tú ơi! Bà Tú ơi!Té ra bà đã qua đời, thực ư ?Tôi cứ tưởng nằm mơ quái ác,Vùng dậy là tỉnh giấc chiêm baoTỉnh dậy, nào thấy đâu nào,Nào đâu bóng dáng ra vào hôm maịĐâu bóng dáng con người thùy mị,Tuy tuổi già xấp xỉ bảy mươi,Vần còn khỏe mạnh, vui tươi,Le te, nhanh nhẹn như thời xuân sau lưng vô tình cứ ngỡMột cô nào thiếu nữ thanh mà cái chết bất thầnCướp ba đi mất, vô ngần xót xa!Kể từ thuở đôi ta kết tóc,Thấm thoát gần năm chục năm quaThủy chung chồng thuận vợ hòa,Gia đình hạnh phúc thật là ấm êm. Tôi được bà vợ hiền thuần thục,Cảm thấy mình tốt phúc bao nhiêu!Đôi ta cùng một cảnh nghèo,Đạo chồng vợ lấy chữ yêu làm khi giường bệnh đã nằm,Bà còn thủ thỉ tình thâm thương chồng“Tôi mà chết thì ông sẽ khổ,Vì, cứ theo câu cổ ngữ taXưa nay con cái nuôi chaCũng không chu đáo bằng bà nuôi ông.”Bà ơi, hãy dầu lòng yên dạ,Giấc nghìn thu cho th?o vong hồn,Bà đi, đã có dâu con,Một lòng phụng dưỡng, chăm nom bố già. Tôi có khổ, âu là chỉ khổVì thiếu bà, nhà cửa vắng tanh,Khổ khi thức giấc tàn canhBên giường trống trải một mình nằm nhớ lại sớm trưa ngày trướcPha ấm trà chén nước mời tôi chẳng thấy bà đâu,Bên bàn thờ nhắp chén sầu đầy vơi… Khổ những lúc ra sân mê tỉnhNgắm vườn nhà thấy cảnh thênh thang,Mà bà khuất núi cho đang,Quả cau tươi, lá trầu vàng ai xơi ?Khổ trông thấy cái cơi còn đó,Đã khô trầu, khô vỏ, khô thước đất đã vùi sâuCặp môi cắn chỉ ăn trầu đỏ tươiNgẫm cảnh già cuộc đời sung sướng,Tưởng vợ chồng còn hưởng dài lâuKhông ngờ con tạo cơ cầu,Bà đi, để tủi dể sầu cho tôi Ôi! Duyên nợ thế thôi là hết,Năm mu_ơi năm thám thiết yêu nhau!Bà về trước, tôi về sauThôi đành tạm biệt, nuốt sầu gượng vuiBà đi rồi nhưng tôi phải ở,Công việc đời còn dở tí thôi,Bao giờ nhiệm vụ xong xuôi,Về nơi cực lạc, lại tôi với bà… Và ông già trẻTác giả Tú Mỡ Ngược đời có lắm cụ già nuaNhí nhảnh làm ra bộ tuổi thơĐầu tóc nhuộm đen hòng trẻ lạiRâu ria cạo trụi rõ…trai lơĐua chơi ra phết ông còn khoẻLàm việc lơ mơ, cụ kiếu giàThấy gái y như mèo thấy mỡNăm thê bảy thiếp cũng không vừa Các ông nghị đi xem đồn điền di dânTác giả Tú Mỡ Người ta mời các nghị viên,Lên Yên Bái xem đồn điền di quan Công sứ đại thần,Mới về nhà “xẹc” ân cần thết thường đặc biệt An NamCỗ tuy lòng dấm, món làm cũng là lòng lợn mắm tôm,Nào là bò tái chấm tương điểm dê nướng chả thơm lừng,Tiết dê pha rượu vô cùng bổ hầm nhừ biến cả xương,Thịt nhồi mộc nhĩ nấm hương ngon bàn đủ cả tam sinh,Rượu ngon nhắm tốt thoả linh các nay được dịp trổ tài,Với thời khí vụng ăn thời rất ngon thức thức sẵn bày,Bát này đĩa nọ hết bay rầm rầm!Tiệc tan khi đã triệt mâm,Mặt to tai lớn đỏ hăm hồng ngài chếnh choáng lao đao,Ra ga bước thấp bước cao lên bàn một lũ theo hầu,Nước chanh, nước đá, chè Tầu, rượu giờ men ngấm hao ghê,Sẵn đồ giã rượu hả hê dạ hầu tíu tít luôn tay,Các “ông dân” cũng ngớt say tỉnh xem công cuộc di dân,Hẳn nhìn mọi sự bội phần lớn về nhớ… bữa say no,Ghi lòng tạc dạ tái bò chả dê. Khoe lườiTác giả Tú Mỡ Anh em chớ bảo ta lười,Làm việc cho hay phải thức hãy còn chơi cho phỉ chí,Hạ mà cất nhắc tất nhoài sang cảm nguyệt còn ngâm vịnh,Đông lại hầm chăn tạm nghỉ đến xuân sang ta sẽ liệu,Anh em chớ bảo ta lười. Sư cô ở cữTác giả Tú Mỡ Chùa Yên Lạc, phủ Khoái ChâuTên sao khéo đặt nên câu hữu tình!Có bà sư trẻ xinh xinh,Tuổi chừng ba chục xuân xanh đang người bầu bĩnh dễ ưa,Nõn nà tay ngọc, mởn mơ má duyên lộ vẻ mặn nồng,Sư bà vẫn muốn hết lòng chân rồi một sáng mùa thu,Người ta thấy vị ni cô sượng đeo cái trống cà rùng,Đến nhà thương để tìm phòng khai ngài Bồ Tát, Thích Ca,Độ trì phù hộ sư bà trẻ ra một cậu sư con,A Di Đà Phật! Mẹ tròn con xong từ giã nhà thương,Gởi con nhà nước lên đường lại lòng tu… hú, tu… mu,Tại miền khoái lạc, cảnh chùa yên thương rồi cứ quen mùi,Sẽ năm một, ba năm đôi xòn năm đẻ bảy sư con,Càng ngày quả phúc càng tròn hơn ngày mùng tám tháng tư,Bụt còn đẻ, nữa là sư?! Ngượng gì! Tứ đại của bà lớnTác giả Tú Mỡ Vừa rồi thống Diệm mới phong choThím nó tức là vợ chú NhuCái tước “Cộng hoà bà lớn nhất”Để dương danh giá của… bà to…Một là cái bọng của bà to,Phề phệ y như cái bọng bòVắt khố dân cày bà ních bẫmBao năm bèo bổ tức cùng là cái mặt của bà toPhèn phẹt y như mặt hổ phùBác thống cho ra làm đại diệnCòn trơ hơn thớt, cộp hơn là cái miệng của bà toXoạc tận mang tai tựa miệng sòQuàng quạc kêu gào xui phụ nữBán mình đăng lính với đi là “nhân vị” của bà to,Việc “ngoại giao” mần giúp bác Ngô,Rất được vừa lòng quan chủ MỹNgày đêm khăng khít bợ cơ nó làm to, thím cũng toBốc nhau thối hoắc nhật nhiều tròĐúng như cửa miệng người ta mỉa“Một đứa làm quan cả họ nhờ!” Ông trẻ giàTác giả Tú Mỡ Ngược đời! Có lắm hạng “ông ranh”Đạo mạo làm ra mặt lão thành!Trước mắt long lanh đôi kính trắng,Dưới cằm lún phún sợi râu ngồi khệ nệ oai nghiêm giả,Ăn nói màu mè đạo đức tuênh!Động hé môi ra là…thở hắt,Than cho thế thái với nhân tình. Gây quanTác giả Tú Mỡ Mỗi năm nhà nước mở khoa thiĐể kén trong trung bắc lưỡng kỳLấy mặt sỏi sành ra giúp việcBổ làm tập sự ngạch quan chiMỗi năm các cậu lớp tân khoaSung sướng bằng xưa đỗ thám hoaTuy chẳng vinh quy, cờ võng lọngCũng là lừng lẫy khắp gần xaQuảng cáo công không, các nhật trìnhĐăng tên, đăng tuổi, lại đăng hình,Làm như các cậu “quan non” ấyLà những kỳ đồng mới tái sinhTrong làng trưởng giả những cô nàoSẵn mỏ nhưng chưa có kẻ đàoMấp máy hòng lên bà lớn tắtMơ màng của dẫn lại tay traoCụ thượng Quỳnh ta cũng sướng ranXoa tay hỉ hả cái gan vàngMừng cho nước Việt còn cơ kháVì chẳng bao giờ tiệt giống quan. Còn sayTác giả Tú Mỡ “Nhắn bác Tản Đà”Đã lâu, bác mới ra đời,Tưởng rằng gột óc theo thời duy ngờ bác vẫn say lăn,Lè nhè vẫn giọng thơ văn trái còn mộng mị, mơ hồ,Người đời vui sống, bác ngờ chiêm bao,Người đời hoạt động xôn xao,Bác vờ triết lý thanh cao bác lười!Ngồi dưng nổi bệnh chán buồn trời gió, rồi trời lại mưa!Giải buồn chén tít say sưa,Chai con chai bố vẫn chưa hết buồn!Rượu vào, rồng rổng thơ tuôn,Miệng ngâm sặc sụa hơi cồn, mùi men,Bác rằng khách tục bon chen,Lao tâm, lao lực, thấp hèn bác rằng bác dở, bác ương,Giả danh ẩn dật là phường bỏ rằng chữ thọ quí danh, hão cả! Ham gì sống dai?Đời rằng thuận với lẽ trời,Sống mà gánh vác việc đời mới như sống để mà… ai vất vưởng bấy nay làm gì?Rung đùi, rượu nốc tì tì,Người ta tỉnh, bác li bì vẫn mê! “Sư cậu” đi hát ả đàoTác giả Tú Mỡ Có hai “sư cậu” chùa Bà,Ăn no rửng mỡ la cà rong chay mãi cũng chán đời,Nên sư phá giới nếm mùi phong mò đến xóm hồng lâu,Ở Ngã Tư Sở, cô đầu tìm ân ái, tượng mày ngài,Sư đang tụng niệm lả lơi với chầu tom chát đang xinh,Bỗng thầy chánh tổng thình lình tạt trông bóng sãi kề hoa,Bạch sư hổ lửa “Đâu mà đến đây?”Sư rằng “Chơi gió, chơi mây,Nhỡ đường vào tạm chốn này trú chân,Rượu chay nhấp chén tẩy trần,Hát chay di dưỡng tinh thần miên man.”Thầy chánh đe giải lên quan,Lưỡng sư xanh mắt, kêu van, nằn tay, rồi lạy, rồi quỳ,Sì sà sì sụp như kỳ dâng “Nay trong cuộc tiêu dao,Ma vương đưa lối lạc vào xóm này chót dại xin tha,A di đà phật! Đến già xin tu!” A. Nguyên nhân xuất hiện hiện tượng trào phúng Hồ Xuân Hoàn cảnh thời đại3. Cái tôi Hồ Xuân Hương B. Những đối tượng trào phúng Hồ Xuân HươngC. Ngôn ngữ trào phúng Hồ Xuân Hương. Hiện tượng trào phúng Hồ Xuân Hương A. Nguyên nhân xuất hiện hiện tượng trào phúng Hồ Xuân Hương. I. Hoàn cảnh thời đại 1. Sự sụp đổ của xã hội phong kiến làm nảy sinh những “quái thai” của xã hội, trở thành đối tượng của bút pháp trào phúng. – Tố Hữu đã từng nhận xét “Cuộc đời là điểm khởi đầu và là điểm đi tới của văn chương”, văn học là tấm gương phản ánh cuộc sống, hiện thực cuộc sống chính là nguồn chất liệu dồi dào làm nên nội dung tư tưởng cho tác phẩm. Do vậy, các hiện tượng văn học, dù muốn hay không cũng đều chịu sự tác động của thời đại. – Bối cảnh lịch sử Việt Nam thế XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, với sự suy tàn của giai cấp thống trị đã làm nảy sinh trong xã hội những kiểu người lố bịch, xấu xa, giả dối, đã chà đạp lên các giá trị truyền thống. Chính những mẫu người này đã trở thành đối đả kích của bút pháp trào phúng, đặc biệt là bút pháp trào phúng của Hồ Xuân Hương. – Thế kỉ XVIII – XIX là giai đoạn khủng hoảng sâu sắc và dữ dội của những mâu thuẫn chất chưa từ trong lòng xã hội phong kiến Việt Nam. – Khởi đầu là những ông vua “Khoanh tay rũ áo” như Lê Dụ Tông, Lê Thuần Tông, Lê Ý Tông, Lê Hiển Tông, những ông chúa ăn chơi hưởng lạc như chúa Trịnh Cương, Trịnh Giang, Trịnh Sâm. – Chế độ phong kiến phát triển đến đỉnh cao nhất dưới triều Lê Thánh Tông XV thì dần dần đi vào giai đoạn khủng hoảng, suy tháoi. Nội chiến phong kiến Lê – Mạc; Trịnh – Nguyễn phá hoại nguyên trọng sự thống nhất đất nước. – Thế kỉ XVIII nọi chiến không còn, nhưng thỉnh thoảng có một vài mâu thuẫn đáng kể giữa Lê, Trịnh, hoặc ngay nội bộ họ Trịnh cũng có những lục đục tranh quyền đoạt vị. Đàng Trong nạn quyền thần Trương Phúc Loan cũng gây chém giết đổ máu không ít .Đất nước không nơi đâu yên ổn. – 1789, phong trào Tây Sơn – Nguyễn Huệ nổ ra với sức mạnh chưa từng thấy đã đạp tan tập đoàn vua Lê chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, nhà Nguyễn ở Đàng Trong thống nhất đất nước, rồi sau đó tiếp tục đánh đuổi quân Xiêm, quân Thanh. – 1802, nhà Nguyễn dựa vào thế lực bọn địa chủ và sự giúp sức của nước ngoài lật đổ triều Tây Sơn còn non yếu, dựng nên một chính quyền cực kì phản động so với nhà Lê trước đó. * Những biểu hiện của sự khủng hoảng + Lĩnh vực chính trị ngoại giao giai cấp phong kiến càng trở nên phản động .Lê Chiêu Thống đang tâm rước giặc ngoại xâm về giày xéo quê hương đất nước. + Lĩnh vực giáo dục, thi cử tệ hại. Có thể dùng tiền mà mua chức vị “cứ tứ phẩm trở xuống, ai nộp 600 quan thì được thăng chức một bậc. Còn những người chân trắng mà nộp 2800 quan thì được bổ tri phủ, 1800 quan thì được bổ tri huyện” Việt Nam sử lược – Trần Trọng Kim + Chính sách thi cử đã làm cho xã hội trở nên nhiễu loạn. Đó là một xã hội mà người có tiền là có quyền cai trị, đạo đức và tài năng nghiễm nhiên bị xem thường ,mọi mặt trong đời sống xã hội đều suy thoái trầm trọng, quan lại xu nịnh, tàn bạo, trở thành tai họa cho nhân dân. + Các nhà cầm quyền phong kiến chỉ biết tranh giành quyền lợi và lao vào cuộc sống hưởng thụ. Kinh tế kiệt quệ, nông nghiệp không phát triển là hậu quả của những cuộc phân tranh và vì thế nạn đói tràn lan. Người dân phải gánh chịu hậu quả ghê gớm của gần mọt thế kỉ chiến tranh, rồi lại còn phải oằn lưng trước gánh nặng sưu thuế cho bạn quan tham ô lại ,đã đau thương vất vả lại trăm nghìn đau thương vất vả hơn nữa. 2. Sự biến chuyển hệ tư tưởng phong kiến và sự xuất hiện của tầng lớp thị dân đánh dấu sự xuất hiện mãnh mẽ cái tôi cá nhân trong văn học. Thế kỉ XVII, do sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa giản đơn và do mở rộng việc buôn bán với các thương nhân phương Tây, Trung Quốc và nhật Bản, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp mà sự lưu thông trao đổi hàng hóa đã được tăng cường và tiền tệ đã bắt đầu có vai trò quan trọng trong đời sống .Xuất hiện tầng lớp mới tầng lớp thương nhân, thợ thủ công… Sinh hoạt mua bán đã li khai quan hệ sản xuất phong kiến. Cuộc sống của tầng lớp này là đi đây đi đó tiếp xúc nhiều kể cả với người ngoại quốc nên tư tưởng của họ tương đối tự do phóng túng hơn những ng khác . Họ bắt đầu thấy lễ giáo phong kiến là lạc hậu, Nho giáo phong kiến là trái tự nhiên, là kiềm kẹp, bất công với con người. Sự có mặt của tầng lớp thự dân cũng như sự phát triển của đô thị phong kiến thời kì này là mầm mống của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, và cũng là mọt trong số những nhân tố trực tiếp tác động đến xu hướng chống phong kiến đòi quyền sống, đòi quyền tự do cá nhân và quyền thể hiện bản ngã, khẳng định cá tính của con người xã hội lâu nay bị đè nén, bức bối nặng nề . Đây chính lànhân tố góp phần làm thay đổi ý thức, tư tưởng xã hội. Sự thay đổi ý thức, tư tưởng xã hội thể hiện ở sự phá sản chưa từng thấy của hệ ý thức phong kiến Nho giáo Bao nhiêu nguyên tắc đều bị vi phạm trắng trợn trước hết từ trong cung vua phủ chúa, nơi ngự trị những khuôn vàng thước ngọc của chính quyền phong kiến “tam cương, ngũ thường” của Nho giáo bị suy sụp một cách thảm hại tôi giết vua, con hại cha, tớ phản thầy, anh em giết lại nhau vì ngôi báu, tước vị… Sự khủng hoảng về lí tưởng của tầng lớp nho sĩ phong kiến hầu hết các nho sĩ quý tộc có tài năng, đạo đức chân chính đều mang một tâm trạng bế tắc, cho thấy một sự khủng hoảng về lí tưởng Nguyễn Du, Cao Bá Quát… Thời kì này bắt đầu thấy bóng dáng cái tôi của cá tính trong tư cách ngang tàng, phóng túng Phạm Thái, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ… Tóm lại, sự khủng hoảng ý thức, cộng với sự xuất hiện của tầng lớp thị dân đã tạo điều kiện thức tỉnh cái tôi cá nhân khá mạnh mẽ. Sự thức tỉnh cái tôi cá nhân, cùng với việc nhận thức được giá trị bản thân, khao khát đòi hỏi sự tự do, đã nhận ra được bản chất kìm kẹp con người của hệ tư tưởng phong kiến, đồng thời cảm thấy khó chịu, bất mãn trước những loại người xấu xa, đồi bại – những sản phẩn của mọt xã hội đang trên đà sụp đổ. Đó chính là cơ sở cho sự phát triển mạnh mẽ của bút pháp trào phúng vào thời kì này. 3. Cái tôi Hồ Xuân Hương Bên cạnh nguyên nhân khách quan là bối cảnh xã hội, thì hiện tượng trào phúng của Hồ Xuân Hương còn xuất phát từ chính bản thân tính cách của nữ sĩ này. Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ khát khao sống, là một con người tài hoa, học rộng biết nhiều nhưng cuộc đời có lắm bi kịch. Trước cảnh xã hội hỗn loạn với nhiều biến tướng, con người ấy làm sao có thể nhắm mắt làm ngơ, làm sao có thể để yên cho những điều sai trái cứ mặc nhiên hoành hành. Cái tôi khao khát sống mãnh liệt tài hoa của Hồ Xuân Hương, chính là nguyên nhân chủ quan dẫn đến sự xuất hiện của hiện tượng trào phúng Hồ Xuân Hương. Với bà, thơ trào phúng, trước hết là sự giải tỏa nỗi lòng, sau đó còn là một thứ vũ khí để đấu tranh với các thói hư tật xấu, là tấm khiên để bảo vệ những người phụ nữ khác trong xã hội. Cái tôi Hồ Xuân Hương trong thơ biểu hiện cũng rất đa dạng Cái tôi ấy khẳng định mình ở ngôi thứ nhất, bộc lộ thái độ riêng và cách ứng xử của bản thân “Này, này chị bảo cho mà biết” Trách Chiêu Hổ “Thiếp bén duyên chàng có thể thôi” Khóc Tổng Cóc “Ví đây đổi phận làm trai được Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?” Đề đền Sầm Nghi Đống Hiện tượng xưng tên là một hiện tượng khá lạ và độc đáo trong thi pháp trung đại, tách khỏi cái phi ngã của thi pháp để khẳng định cái tôi cá nhân “Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Hương mới quệt rồi” Mời trầu “Thân này” cũng được sử dụng nhiều “Tài tử văn nhân ai đó tá? Thân này đâu đã chịu già tom!” “Thân này ví biến dường này nhỉ Thà trước thôi đành ở vậy xong” Khi bà hóa thân vào tình cảnh của người khác, xưng tôi nhưng là nói hộ tâm trạng của người khác “Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa Mảnh tình một khối thiếp xin mang” Không chồng mà chửa “Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo Dau cầu thiếp biết trao ai nhẽ…” Bỡn bà lang khóc chồng Khi bà hóa thân vào sự vật thì cái tôi cũng hiện lên với những đặc tính, tính chất của sự vật “Thân em vừa trắng lại vừa tròn” Bánh trôi nước “Thân em như quả mít trên cây” Quả mít “Quân tử có thương thì bóc yếm Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi” Ốc nhồi Nhìn chung, cái tôi Hồ Xuân Hương biểu hiện trong thơ có những đặc điểm chung như sau Thứ nhất, Dễ đồng cảm với những đối tượng tầm thường, nhỏ mọn như loài ốc, quả mít, bánh trôi nước, cái quạt, đồng tiền hẻm . Ở đây sự đồng cảm có hai mặt, vừa bộc lộ nỗi buồn thân phận nhỏ bé, bi kịch, những khao khát chưa được thỏa nguyện… nhưng từ đó lại làm bật lên “phép thắng lợi tinh thần” ngoa dụ sức mạnh tiềm ẩn và phẩm giá của các sự vật được miêu tả, cũng như từ đó làm bật lên phẩm giá của con người. Thứ hai, Dễ chạnh lòng với những cảnh ngộ trớ trêu, không như ý, thậm chí đắng cay, chua chát Tâm trạng đau thương trong ba bài Tự tình, khát khao hạnh phúc trong Mời trầu, thân phận hẩm hiu của người phụ nữ Làm lẽ, Không chồng mà chửa, cảnh ngộ của những đàn bà góa bụa… Có sự chú ý đặc biệt sắc sảo đến những “mặt người dị dạng” của xã hội lũ quan lại, sư hổ mang lũ học trò dốt, những kẻ giả dối, tàn nhẫn… Vịnh cái quạt, Thiếu nữ ngủ ngày, Mắng học trò dốt – I, II… B. Những đối tượng trào phúng Hồ Xuân Hương Xã hội Việt Nam thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX đã đánh dấu sự mục ruỗng của xã hội phong kiến từ trong ra ngoài, kéo theo đó là sự xuất hiện của những “quái thai xã hội” – những kiểu người dị dạng, giả dối, đạo đức giả, chà đạp lên những giá trị truyền thống tốt đẹp. Những kiểu người này chính là đối tượng đả kích chính của bút pháp châm biếm. Bằng cái nhìn sắc xảo bao quát cuộc sống, ngòi bút châm biếm Hồ Xuân Hương trở nên giàu sức chiến đấu khi đã vạch trần, tố cáo, đả kích đủ mọi tầng lớp tiêu cực trong xã hội. Ngòi bút ấy hướng đến trước hết là giai cấp thống trị, cụ thể là bọn vua quan phong kiến. Sự suy tàn của xã hội phong kiến có gốc rễ từ sự thối nát, mục ruỗng từ bọn giai cấp thống trị. Đó là những tên vua ăn chơi sa đọa, không màng đến nhân dân. Đó là bọn quan tham ô, vô lại, làm nhũng nhiễu cuộc sống của người dân vô tội. Cái cười cợt của Hồ Xuân Hương với bọn vua chúa, quả thực rất sâu cay Mười bảy hay là mười tám đây Cho ta yêu dấu chẳng dời tay. Mỏng dày từng ấy, chành ba góc Rộng hẹp dường nào, cẵm một cay Càng nóng bao nhiêu thời càng mát, Yêu đêm chưa phi lại yêu ngày. Hồng hồng má phấn duyên vì cậy. Chúa dấu vua yêu một cái này. Vịnh cái quạt II Thủ pháp song quan gắn với yếu tố cái tục đã tỏ ra là một thủ pháp châm biếm xuất sắc. Ở đây, những cánh cửa ẩn nghĩa hiện ra, hình thành trong tâm trí người đọc hai hình ảnh một hình ảnh của cái quạt giấy, một hình ảnh cơ thể người thiếu nữ. Mười bảy hay mười tám, ấy là số nan của quạt giấy, nhưng cũng là ẩn dụ cho tuổi xuân của người thiếu nữ. “Cay” lại là cái suốt của quạt giấy, hải đầu có mảnh kim loại nhài quạt hình tròn để chốt các nan lại ở hai nan cái, nhưng cũng gợi lên những liên tưởng về cơ quan sinh dục của con người. Đến đây người đọc không khỏi có cái cười khoái trá. Hóa ra, cái vua thích, chỉ là cái thứ “mỏng dày từng ấy, chành ba góc”, cũng là cái“Chành ra ba góc da còn thiếu/Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.” trong bài Vịnh cái quạt I. Cách diễn đạt “Chúa dấu vua yêu” với sự khẳng định “một cái này” đầy sắc sảo, bén nhọn. Vua chúa chỉ yêu một thứ ấy, có thèm để tâm đến những thứ khác đâu? Trong mắt chúa, trong mắt vua, giang sơn, xã tắc, cũng chẳng thể bằng cái vật mỏng da thừa thịt ấy! Thế chẳng phải là mục ruỗng, là suy đồi hay sao? Mục ruỗng, suy đồi từ tận gốc rễ. Mỗi xã hội đều cần một hệ tư tưởng để làm công cụ cho giai cấp thống trị. Trải qua hơn ba thế kỉ, hệ tư tưởng Nho giáo của xã hội phong kiến cũng đã bộc lộ cả những mặt mạnh, mặt yếu của mình. Đến thời kì Hồ Xuân Hương sống, hệ tư tưởng Nho giáo đã sụp đổ từ tận gốc, bởi chính những kẻ rao giảng, truyền bá nó. Bọn hiền nhân quân tử đã phạm một cách trắng trợn vào những đạo nghĩa thánh Hiền. Sự rao giảng của chúng trở thành thói đạo đức giả đáng khinh. Và tất nhiên, ngòi bút trào phúng của Hồ Xuân Hương không bỏ qua chúng Mùa hè hây hẩy gió nồm đông, Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng. Lược trúc lỏng cài trên mái tóc, Yếm đào trễ xuống dưới nương long. Đôi gò Bồng Đảo hương còn ngậm, Một mạch Đào Nguyên suối chửa thông. Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt Đi thì cũng dở ở không xong. Thiếu nữ ngủ ngày Bài thơ trước hết là sự tôn vinh vẻ đẹp cơ thể nữ. Đó là thứ vẻ đẹp căng tràn sức sống, thể hiện sự trân trọng và nhận thức sâu sắc về giá trị người nữ. Cái hay của Hồ Xuân Hương là dựa vào cái vẻ đẹp đáng trân trọng ấy để tạo ra một thứ tình huống nghịch lý, trớ trêu, thử thách bọn “quân tử hiền nhân”. Và rõ ràng, khi vương vào bẫy, cái điệu bộ của kẻ quân tử thật buồn cười “Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt Đi thì dở ở cũng không xong” Thơ Hồ Xuân Hương là thơ Việt hóa tối đa, mỗi khi sử dụng từ Hán Việt thì thường có hàm ý mỉa mai. Ở đây, chữ “quân tử” càng trang trọng bao nhiêu, ngạo nghễ bấy nhiêu, khi đặt vào tình huống này, lại càng nhục nhã, ê chề bấy nhiêu. Hiền nhân quân tử đầu đội trời chân đạp đất theo như sách Thánh hiền, lại “dùng dằng đi chẳng dứt” – điệu bộ lấm lét như một tên trộm. Câu thơ như cái nhìn cười cợt sắc bén của Hồ Xuân Hương khi đã đánh trúng vào “tim đen” của chúng, lí giải được cái tâm tính tầm thường của chúng. Tình thế này là do ai? Chẳng phải do chính thói đạo đức giả của chúng hại chúng đấy sao? Quả là nữ sĩ họ Hồ đã ra một cú “gậy ông đập lưng ông” hết sức cao tay, tài tình. Bên cạnh bọn “hiền nhân quân tử” đạo đức giả, ngòi bút Hồ Xuân Hương còn nhắm đếm một đối tượng khác cũng thuộc giới trí thức Nho học Bọn học trò dốt. Chính sách cho phép dùng tiền để mua chức vị của triều đình, “cứ tứ phẩm trở xuống, ai nộp 600 quan thì được thăng chức một bậc, còn những người chân trắng mà nộp 2800 quan thì được bổ tri phủ, 1800 quan thì được bổ tri huyện” Việt Nam sử lược – Trần Trọng Kim, đã khiến cho việc giáo dục, thi cử thời kì này trở nên hỗn loạn. Chỉ cần có tiền là có thể mua được chức, quyền, đồng tiền chiếm thế thượng phong thâu tóm tất cả, các giá trị đạo đức bị chà đạp, bọn quan lại vì thế càng nhũng nhiễu dân lành, nhất là bọn quan hoạn. Cũng trong tình cảnh thi cử rối ren ấy, người có tài thì thì bị đánh rớt oan, còn bọn bất vài nhưng có tiền thì được xướng danh bảng vàng. Chính điều này đã làm xuất hiện một loại người “quái thai” trong xã hội Bọn học trò dốt, dốt nát nhưng lại tự cao tự đại, vẫn cứ tự mãn vào con chữ của mình, tự mãn rằng mình là rường cột nước nhà. Với loại người này, Hồ Xuân Hương vừa ghét, vừa coi thường. Nhóm bài thơ “Mắng học trò dốt” đã thể hiện rõ cái nhìn khinh khi của nữ sĩ với lũ học trò ngu dốt nhưng kiêu căng, ngạo mạn. Trong các giai thoại tương truyền về Hồ Xuân Hương, có ý kiến cho rằng bài “Mắng học trò dốt – I” ra đời khi Hồ Xuân Hương đi thăm chùa Trấn Quốc về, đang lững thững bên bờ hồ Tây thì thấy mấy thần khóa bước rảo lên theo sát ở đằng sau. Rồi các thầy giở giọng chớt nhả ra trêu ghẹo nàng. Có thầy lại hứng trí tung cả chữ nghĩa ra nữa. hồ Xuân Hương thấy họ trêu ghẹo thì vẫn im lặng, nhưng đến khi nghe cái thơ thẩn nửa mùa ấy thì không nhịn được nữa, nàng mới quay lại, đọc dồn cho các thầy một bài thơ rằng “Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ Lại đây cho chị dạy làm thơ. Ong non ngứa nọc châm hoa rữa, Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa!” Bấy giờ, các thầy khóa nghe giọng thơ thì biết ngay là Hồ Xuân Hương. Riêng thầy đọc thơ lúc nãy thì thẹn chín người. Bài “Mắng học trò dốt II” cũng ra đời trong một hoàn cảnh thú vị không kém. Cũng một lần đi thăm chùa Trấn Quốc, Hồ Xuân Hương nhìn lên trên vách chuông, thấy bài thơ của một anh học trò nào đó đề lên. Câu kẹo ý tứ chán mớ đời. Thế mà cũng vác bút, vạch hàng để khoe ngu với khách vãng lai. Chẳng nói chẳng rằng, cô đề luôn một bài thơ vào khoảng trống bên cạnh “Dắt díu nhau lên trước cửa đền Cũng đòi học nói, nói không nên. Ai về nhắn nhủ phường lòi tói, Muốn sống đem vôi quét trả đền.” Điểm chung đặc biệt giữa hai bài thơ đó là sự ứng tác gần như tức thời, “xuất khẩu thành thơ” của nữ sĩ. Đó là tài năng thiên phú, nhưng đồng thời đó cũng là sự bùng phát của cảm xúc khinh bỉ, coi thường đối với đối tượng châm biếm. Trong những bài thơ này, Hồ Xuân Hương luôn xuất hiện như một vị bề trên, xưng “chị”, với giọng điệu xách mé, khinh khi của một kẻ ở vị trí cao hơn. Trong mắt bà, lũ học trò dốt chẳng qua chỉ là “lũ ngẩn ngơ”, “phường lòi tói”, cái thơ văn chữ nghĩa của chúng chẳng qua là trò trẻ con, ngựa non háu đá “Ong non ngứa nọc châm hoa rữa/Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa!”, chẳng qua chỉ là thứ học đòi kém cỏi “Cũng đòi học nói, nói không nên”. Bài thơ ngắn gọn, xúc tích, ứng khẩu thành thơ, ấy vậy mà giọng điệu ngạo nghễ, cái nhìn khinh khi của một kẻ có tài chiếu xuống bọn bất tài, cũng sắc bén và có sức đả thương như dao, kiếm, khiến đối tượng châm biếm nhục nhã, ê chề, nhưng đành tâm phục, khẩu phục. Là một cái tôi khao khát sống mãnh liệt, Hồ Xuân Hương ghét cay ghét đắng những kẻ đạo đức giả, kìm hãm quyền tự do của con người như bọn “hiền nhân quân tử”, đồng thời, nàng cũng ghét cả những kẻ tự tách mình ra khỏi đời sống, hay nói đúng hơn, là lấy cớ đi tu để tách mình ra khỏi đời sống, nhưng bên trong thì vẫn đầy những ham muốn đồi bại, dung tục, làm xấu mặt tôn giáo mà mình đang phụng sự. Về đề tài sư hổ mang, tiếng thơ Hồ Xuân Hương cũng có những dòng cười cợt gay gắt, chua cay. Nàng đã tài tình dựng lại một bức tranh chốn tu hành hỗn tạp, rối loạn, không ra thể thống gì “Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm Vãi nấp sau lưng sáu bảy bà. Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha.” Món đồ dâng lên cũng kiếng thì bày la liệt như thể món hàng ngoài chợ. Người tu hành thì không có dáng vẻ thanh tịnh của kẻ chân tu, mà lại thập thò, lén lút, nấp sau lưng “sáu bảy bà”. Đặc biệt không gian hỗn độn được đặc tả tài tình ở hai câu thơ cuối “Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha” Tiu cảnh, chũm chọe là hai thức nhạc cụ cổ truyền của Việt Nam. Tiu Cảnh là nhạc khí tự thân vang của dân tộc Việt, gồm 2 chiếc thanh la cỡ nhỏ làm bằng đồng thau, đường kính khoảng 10 cm, một chiếc thành thấp, một chiếc thành cao, với hai âm cao thấp cách nhau quãng nǎm đúng. Tiu cảnh được treo trong hai vòng tròn của một chiếc khung có tay cầm bằng gỗ. Khi biểu diễn nhạc công tay trái cầm tiu, tay phải cầm que tre có mấu gõ vào mặt thau tạo ra âm thanh cao, vang, lảnh lót. Tiu cảnh tham gia trong ban nhạc chầu vǎn, dàn bát âm, ban nhạc cúng lễ. Chũm choẹ còn gọi là não bạt, là nhạc khí tự thân vang của dân tộc Việt. Chũm chọe làm bằng hợp kim đồng thiếc, gồm hai chiếc giống nhau, hình tròn như chiếc đĩa, có núm để cầm. Khi đánh chũm chọe, hai tay cầm hai núm, dập hai mặt vào nhau, có lúc dập chéo xuống, chéo lên. Người sử dụng chũm chọe vừa đánh, vừa múa. Âm thanh chũm chọe to, vang, hơi chói tai. Chũm chọe được sử dụng trong dàn nhạc của cung đình, trong sân khấu tuồng, cải lương, trong đám rước sư tử và tham gia trong dàn nhạc dân tộc tổng hợp hoà tấu. Hai thức nhạc khí ấy được đặt tên theo âm thanh mà nó tạo ra. Ở đây, việc sử dụng tiu cảnh, chũm chọe vừa với tư cách là danh từ, vừa với tư cách là từ tượng thanh, kết hợp với biện pháp tách từ, đặt trong điệp ngữ “khi…khi…khi…” và nhịp 2/2/3gấp gáp, ồn ã đã góp phần dựng nên một khung cảnh cảnh hỗn loạn đầy những tạp âm. Câu thơ sau đối rất chỉnh với câu thơ trước, cũng điệp ngữ “giọng… giọng… giọng…” nhịp 2/2/3 và những từ mô phỏng âm thanh của con người “hì, hỉ, hi ha” đã góp phần làm tăng sự hỗn loạn của bức tranh lên đỉnh điểm. Tiếng người, tiếng vật, hỗn loạn, tạp nham… có còn đâu là chốn tu thành hành thanh tịnh, còn đâu chốn cửa Phật thiêng liêng? Với bọn sư không lo tu hành, ngòi bút trào phúng của Hồ Xuân Hương có những sự khắc họa hiểm hóc, tài tình “Chẳng phải Ngô chẳng phải ta Đầu thì trọc lóc, áo không tà.” Bút pháp giễu nhại, biếm họa đã dựng nên bức chân dung các vị sư hổ mang một cách trớ trêu Chẳng phải giặc, cũng không phải quân mình. Một cách oái oăm, bà đặt sư vào một mối quan hệ đối lập sống còn xưa nay, Ngô – ta quần thù – đất nước, và cười khẩy khi khám phá ra những nét cá biệt, chẳng hiểu là Ngô hay ta của sư đầu trọc – thì chẳng phải Ngô rồi, mà áo truyền thống của ta là áo có tà, áo sư có tà đâu? Việc đẩy đối tượng châm biếm vào một vị thế lai căng, chông chênh ở giữa giống như một cái cười tinh quái. Ví với giặc, dù không phải là giặc, thì vẫn là một sự sỉ nhục. Mà bảo sư không phải dân mình, cũng lại là một sự sỉ nhục khác. Thậm chí, cái căm ghét của nữ sĩ họ Hồ có khi bật lên thành tiếng văng tục “Đầu sư há phải gì… bà cốt Bá ngọ con ong bé cái nhầm”. Ở đây, cũng phải thấy rõ rằng, Hồ Xuân Hương không hề đả kích Phật giáo, không hề đặt mình ở phía đối lập với tôn giáo. Nhưng Phật giáo thời kì này, cùng với sự biến động, nhiễu loạn của xã hội, cũng đã xuất hiện những phần tử xấu, bôi nhọ hình ảnh thanh tịnh của chốn cửa thiền. Ngòi bút của nữ sĩ hướng tới châm chích, đả kích các đối tượng ấy, cũng là một cách đòi lại sự trong sạch cho chốn chân tu. Lí do cao hơn cả, như đã nói ở trên, đó là bởi cái tôi khao khát sống của Hồ Xuân Hương không cho phép bà khoanh tay làm ngơ trước những kẻ rời bỏ cuộc sống, trốn tránh cuộc sống, mượn danh thanh bạch của chốn chân tu để làm trò đồi bại, bỉ ổi, nên đã khiến hồn thơ sắc bén, cá tính của bà nảy sinh những vần thơ châm biếm rấu sâu cay như thế. Ngòi bút trào phúng của Hồ Xuân Hương luôn thể hiện một cái tôi mạnh mẽ, bản lĩnh. Sự khẳng định ấy thể hiện trong việc nhận thức giá trị bản thân, khẳng định giá trị bản thân, thể hiện trong cách nhìn của bà về các thói hư tật xấu trong đời sống, và còn thể hiện ở lòng tự tôn dân tộc. Trong bài Đề đền Sầm Nghi Đống, thông qua việc châm biếm, đả kích một tên tướng giặc bại trận, cái tôi Hồ Xuân Hương đã được bộc lộ rất mạnh mẽ “Ghé mắt trông lên thấy bảng treo Kìa đền thái thú đứng cheo leo Ví đây đổi phận làm trai được Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?” Đền Thái thú ở đây chỉ đền Thái thú Sầm Nghi Đống. Họ Sầm là tướng của Tôn Sĩ Nghị cầm đầu một đạo quân nhà Thanh sang xâm lược ta năm Kỉ Dậu 1789. Khi bị vua Quang Trung tấn công, quân Thanh thua chạy, Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử. Sau này Hoa Kiều lập đền thờ Sầm Nghi Đống trên gò Đống Đa – Hà Nội. Dù ở bất cứ ngôi đền nào, thì thái độ của người ghé thăm thường là sự tôn kính. Thế nhưng ở đây, thái độ Hồ Xuân Hương thì hoàn toàn khác hắn. Đầu tiền là cái “ghé mắt”, ghét mắt – một cái nhìn nửa vời, không chủ ý, một cái nhìn vô tình thấy, đồng thời trong đó còn hàm chứa sự tự cao, và cả sự khinh khi với kẻ đối diện. Ở nơi thờ tự tôn nghiêm, ấy vậy mà thơ nữ sĩ họ Hồ lại có chỉ từ “kìa”, đứng tách biệt ra khỏi với câu thơ bằng nhịp 1/3/3 – đó là cái chỉ trỏ, có hàm ý coi thường. Như vậy, tư thế của Hồ Xuân Hương ở đây là một tư thế hiên ngang, ngạo nghễ, có phần ngang tàng. Mà quả thật như vậy, nàng đã không ngại ngùng khẳng định cái tôi của mình “Ví đây đổi phận làm trai được Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?” Nàng đã không ngại ngần khẳng định khí phách của mình, nếu làm nam nhi, nàng còn có thể làm nhiều hơn thế. Cách sử dụng cụm “sự anh hùng” cũng đầy tính châm biếm, mỉa mai. Người anh hùng chân chính làm nên “sự nghiệp anh hùng”, nó to lớn, đồ sộ, khác hẳn với “sự anh hùng”, nghe nhẹ hều, mà có bề gì đấy như giả dối, như một dạng anh hùng rơm. Đã “sự anh hùng”, lại còn “há bấy nhiêu”, câu hỏi tu từ kết bài đầy tính thách thức, đầy chất mỉa mai. Ở đây ta còn thấy xuất hiện vẻ đẹp của lòng tự tôn dân tộc, qua việc sỉ nhục, khinh bỉ một tên giặc ngoại xâm bại trận. Tiếng nói của Hồ Xuân Hương là tiếng nói của cái tôi khao khát cuộc sống, của cái tôi cá nhân ngang tàng, ngạo nghễ, sẵn sàng khẳng định bản thân. Đúng, nhưng tiếng nói ấy còn có lục vượt ra khỏi khuôn khổ của cái tôi để trở thành tiếng nói của cái ta – tiếng nói chung cho thân phận người phụ nữ của thời đại. Bên cạnh những tiếng kêu than đau đớn cho số phận con người, thì Hồ Xuân Hương còn góp tiếng nói mạnh mẽ để đấu tranh, đòi quyền sống cho người phụ nữ bằng ngòi bút trào phúng của mình. Nàng đã lên tiếng bênh vực cho một cô gái trót lâm vào cảnh “Không chồng mà chửa” “Cả nể cho nên hóa dở dang, Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc Phận liễu sao đà nảy nét ngang. Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa? Mảnh tình một khối thiếp xin mang. Quản bao miệng thế lời chênh lệch, Không có, nhưng mà có, mới ngoan!” Không chồng mà chửa Bài thơ giống như một lời tuyên ngôn bảo vệ hạnh phúc của người phụ nữ, đồng thời còn là một tiếng lòng đồng điệu, bày tỏ hết tâm tình của người con gái yêu bằng cả trái tim, dâng hiến tất cả, để rồi bị phụ tình. Hồ Xuân Hương đã rất mạnh mẽ bảo vệ người phụ nữ ấy “Quản bao miệng thế lời chênh lệch/Không có, nhưng mà có, mới ngoan”. Ấy là cái ý tứ mượn từ ca dao “Không chồng mà chửa mới ngoan/Có chồng mà chửa thế gian chuyện thường”. Tuy vậy, thấp thoáng đâu đó trong bài thơ còn có cái cười nhẹ, một cái cười chê trách. Không phải là ngẫu nhiên mà bài thơ xuất hiện những câu hỏi “chàng có biết chăng chàng”, “chàng nhớ chửa” . Đó là những lời dò hỏi tâm tình, đó là lời nhắc nhớ, mà đó cũng là lời oán trách. Một cái cười nhẹ mỉa mai oán trách của nữ sĩ họ Hồ. Chàng quân tử kia ơi, chàng nam nhi kia ơi, sao chàng có gan làm, mà không có gan chịu, sao chàng dám yêu, mà không dám nhận trách nhiệm, sao chàng nỡ bỏ người con gái dành tất cả cuộc đời cho chàng? Thế thì chàng còn đáng mặt nam nhi không, thế thì chàng còn mặt mũi nào mà sống trong trời đất này nữa? Cái cười mỉm ấy của Hồ Xuân Hương, hiền, nhưng chua xót, nhẹ nhàng mà thấm thía. Các lễ giáo phong kiến cùng với tư tưởng trọng nam khinh nữ và chế độ đa thê đã mang lại cho người phụ nữ biết bao cay đắng, tủi nhục. Sinh thời, Hồ Xuân Hương cũng là nạn nhân của việc làm lẽ, cũng chịu bao cay đắng, tủi hờn, đến nỗi phải thốt lên “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung/Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng”. Bên cạnh tiếng chửi, cũng có cả những tiếng cười cợt, như bài “Khóc tổng cóc” “Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi! Thiếp bén duyên chàng có thế thôi. Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi” Tiếng cười nảy sinh từ phép chơi chữ tài tình của nữ sĩ họ Hồ, lợi dụng hiện tượng đồng âm của từ, sử dụng sự tương đồng trong các phép ẩn dụ để mang cả họ nhà cóc vào bài thơ chàng, cóc, bén, nòng nọc, chuộc. Bài thơ khóc chồng, sao lại vui vẻ thế, sao lại mang cả “họ nhà chồng” vào chế giễu như thế, có phải nữ sĩ quá tàn nhẫn không? Có thuyết cho rằng Hồ Xuân Hương làm bài “Khóc tổng Cóc” không phải do tổng Cóc chết mà là sau khi bị người vợ cả ngăn cản, chia rẽ. Vì thế Hồ Xuân Hương mới đưa tên cả họ hàng nhà Cóc vào bài thơ chế giễu. Như vậy đấy, ngay trong tình cảnh đáng thương, hẩm hiu của mình nữ sĩ họ Hồ vẫn có những dòng thơ cười cợt, châm biếm sâu cay. Chẳng hiểu tổng Cóc đọc những vẫn thơ này sẽ cảm thấy thế nào, nhưng người đọc thì thấy khâm phục một tài năng Hồ Xuân Hương, một tấm lòng ham sống của Hồ Xuân Hương. Vợ cả ngăn cản, chia rẽ, không làm gì được, nàng xem như chồng đã chết, lại còn làm cả một bài thơ khóc chồng, nhưng khóc đâu chẳng thấy, chỉ thấy cười cợt, giễu mỉa. Trong hoàn cảnh đáng thương của chính mình mà vẫn có thể cười cợt, bông lơn, đó cũng chính là khí phách “nín đi kẻo thẹn với non sông” của Hồ Xuân Hương vậy. Trong các loại trào phúng, thì yếu tố cái hài là yếu tố nhẹ nhàng nhất, nó chỉ là một cái cười nhẹ nhàng, cho vui, cho khuây khỏa, nó là cái cười không làm người ta mích lòng, cũng không phải để đả kích, chiến đấu, hay hạ bệ ai cả. Với những đề tài về người phụ nữ, ngòi bút trào phúng Hồ Xuân Hương cũng chọn cái hài hước nhẹ nhàng ấy làm công cụ bày tỏ, tiêu biểu là qua nhóm bài thơ bỡn người phụ nữ khóc chồng Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì Thương chồng nên nỗi khóc tì ti Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo Cay đắng chàng ơi vị quế chi Thạch nhũ, trần bì sao để lại Quy thân, liên nhục tẩm mang đi Dao cầu thiếp biết trao ai nhỉ Sinh ký chàng ơi, tử đắc quy. Bỡn bà lang khóc chồng Văng vẳng tai nghe tiếng khóc chồng Nín đi kẻo thẹn với non sông. Ai về nhắn nhủ đàn em bé, Xấu máu thì khem miếng đỉnh chung. Dỗ người đàn bà khóc chồng Cả hai bài thơ đều mở đầu bằng cụm “văng vẳng tai nghe tiếng khóc”. Rõ ràng, trước nỗi bất hạnh của người phụ nữ, trước nỗi đau của người góa phụ, Hồ Xuân Hương có sự đồng cảm sâu sắc. Nhưng tại sao ở đây lại có sự bỡn cợt? Trước hết, cần điểm lại bối cảnh xã hội lúc bấy giờ. Xã hội phong kiến là xã hội mang nặng tư tưởng Nho giáo, mà người phụ nữ bị kìm cặp trong tam tòng, tứ đức “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Người phụ nữ, nếu chồng chết, phải thủ tiết thờ chồng. Và cái bi kịch của con người nảy sinh ở chỗ ấy Nếu người góa phụ hẵng còn trẻ, tuổi xanh hẵng còn, chẳng lẽ phải hoài phí tuổi xanh để thờ một người đã chết? Việc tự nguyện, hay không tự nguyện, là lựa chọn của mỗi người, nhưng ta thấy rằng, quan niệm này đã gây ra bi kịch cho không ít phụ nữ. Tiếng khóc ở đây, có lẽ khóc vì thương xót chồng cũng một phần, nhưng phần nhiều là khóc cho thân phận của mình, cho số phận của chính mình. Đau đớn, tủi thân, thì phải khóc. Nhưng có lẽ, khóc, là cam chịu, là đớn hèn, là chịu khuất phục số phận. Phải chăng đó là lí do Hồ Xuân Hương, một cái tôi ngang tàn, không chịu khuất phục cất lên tiếng nói cười cợt? Hẳn là vậy, hơn nữa, Hồ Xuân Hương còn khuyên nhủ họ “Nín đi kẻo thẹn với non sông”. Cái khí thế mới ngang tàn, ngạo nghễ làm sao? Đương thời cũng có Nguyễn Công Trứ “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông”. So với cái chí nam nhi của Nguyễn Công Trứ, cái khí phách nữ nhi của Hồ Xuân Hương cũng không thua kém gì, thậm chí có phần đặc biệt hơn, đặt trong bối cảnh xã hội trọng nam khinh nữ. Cái tài tình của Hồ Xuân Hương còn thể hiện ở chỗ, bút pháp trào phúng của bà không chỉ hướng đến con người và các hiện tượng cụ thể trong đời sống, mà ngay cả những hiện tượng siêu nhiên siêu hình, cũng trở thành đối tượng để bà cười cợt, trêu đùa “Khen thay con tạo khéo khôn phàm” Hang Thánh Hóa “Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc” Hang Cắc Cớ “Rõ khéo trời già đến dở dom.” Động Hương Tích Thiên nhiên tạo hóa trong mắt bà cũng là một con người bình thường để bỡn cợt, cũng khôn phàm, thậm chí ngang hàng để bà cười cợt “khen thay”, có khi thì như một người bạn để bà mắng yêu, cười mát mẻ, gọi là “trời già”, gọi là “dở dom”. Cái chơi chữ “tài xuyên tạc” trong bài “Hang Cắc Cớ” bà sử dụng cũng rất tài tình. Xuyên, tạc, đó là những hành động của người thợ chạm khắc, rất hợp với ngữ cảnh “khen ai đẽo đá”. Thế mà, “xuyên tạc”, lại là hành động bóp méo lời nói của người khác, là một hành động không hay. Cái trêu ngươi của Hồ Xuân Hương là ở chỗ đấy. Cười cợt cả tạo hóa, tự nâng mình lên ngang tầm vũ trụ, đó là biểu hiện đầy ấn tượng của cái tôi cá nhân Hồ Xuân Hương. Đồng thời, nó cũng là một biểu hiện cho một tính cách phóng khoáng, hào sảng, khát khao một cuộc sống tự do, tự tại. Tóm lại, ngòi bút trào phúng của Hồ Xuân Hương hướng đến đủ mọi đối tượng, đủ thói hư tật xấu trong xã hội, đồng thời cũng rất đa dạng, đa giọng điệu, đa bút pháp. Nghệ thuật trào phúng chính là vũ khí đắc lực nhất của văn học, biến văn học trở thành công cụ cải tạo xã hội, đấu tranh với những điều xấu xa, đồi bại trong xã hội để bảo vệ lẽ phải, công lý, đòi quyền sống cho con người. Tiếng cười trào phúng của Hồ Xuân Hương, thông qua yếu tố cái tục, là thứ “khí giới vừa thanh cao vừa đắc lực mà chúng ta có, để tố cáo vạch trần một xã hội xấu xa, giả dối, làm người đọc phong phú hơn, trong sạch hơn” Thạch Lam. C. Ngôn ngữ trào phúng Hồ Xuân Hương. Để tạo nên hiệu quả trào phúng trong các tác phẩm, nghệ thuật sử dụng ngôn từ điêu luyện vào loại bậc thầy của Hồ Xuân Hương là một yếu tố quan trọng không thể thiếu. Xứng đáng với danh hiệu “Bà chúa thơ Nôm”, Hồ Xuân Hương đã biết vận dụng ngôn ngữ bình dân một cách tài tình và điêu luyện, từng từ, từng chữ sử dụng đều đắt giá và có hiệu quả nghệ thuật cao. Trước hết phải kể đến việc bà sử dụng thể thơ trong các sáng tác của mình. Trong thơ Hồ Xuân Hương, thể thất ngôn bát cú hay tuyệt cú của Đường luật của Trung Quốc đã được Việt hóa để trở thành những thể thơ của nhân dân quần chúng. Biểu hiện của sự việt hóa đó như sau Thứ nhất, lời thơ như lời nói cửa miệng, không có vẻ gì là thông thái. Câu thơ đầy tính khẩu ngữ với các lời vẫy gọi ơi, hỡi, với cách gọi “bọn”, “lũ”, thậm chí cả những lời văng tục “bá ngọ…”. Trên thực tế, có những bài thơ như nhóm bài thơ Mắng học trò dốt là những bài thơ ứng khẩu, lời nói thành thơ, mà thơ như lời nói. Thứ hai, không sử dụng điển tích điển cố Trung Quốc hay từ Hán Việt, việc sử dụng từ Hán Việt nếu có, là để mỉa mai. Ta thấy rất rõ điều này trong bài “Thiếu nữ ngủ ngày”, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã hạ hai chữ “quân tử” rất đắt ở cuối bài thơ, tương phản và bị hạ bệ một cách ê chề trong hành động lấp ló, không minh bạch “đi thì dở, ở không xong”. Thứ ba, thơ Hồ Xuân Hương đã thoát khỏi đặc tính ước lệ khắt khe của thể thơ, mỗi bài của XH là một bức tranh, một câu chuyện, một lát cắt cuộc sống, sự vận động trong thơ rất sống động, mạnh mẽ, phải cẩm nhận bằng tất cả các giác quan. Thứ tư, thơ Hồ Xuân Hương Mang tính chất dân gian ở nét trào phúng, đả kích, phù hợp với nếp nghĩ truyền thống vừa vui vừa hóm, vừa đùa bỡn, cười vợt, vừa nghiêm trang, vừa nói chơi vừa nói thật… Bên cạnh việc sử dụng thể thơ độc đáo, nhịp thơ được ứng dụng uyển chuyển, đa dạng cũng làm cho thơ trào phúng Hồ Xuân Hương trở nên hấp dẫn, sức hấp dẫn trước tiên là ở sự đa giọng điệu – Thơ tuyệt cú thường là nhịp 4/3 hoặc 2/2/3. Thơ Hồ Xuân Hương nhịp rất uyển chuyển, nhiều câu đã phá vỡ khuôn nhịp cũ mà có lối nghỉ tùy thuộc vào cảnh tình, cũng như dụng ý nghệ thuật. Nhịp thơ cho ta hình dung sự chỉ trỏ một cách cụ thể. Nhịp 2/5 “Chiếc bách/buồn về phận nổi nênh” è cảnh cô đơn, bé nhỏ, cam chịu” Tự tình III Nhịp 2/3/2“Nỗi niềm/chàng có biết/chăng chàng” è sự tức tưởi, lời than thân trách phận. Sự dở dang Nhịp 1/3/3 “Kìa/cái diều ai/ nó lộn lèo” Quán Khánh Cùng với việc sử dụng thể thơ, nhịp thơ, cách xử lí chất liệu ngôn từ của Hồ Xuân Hương cũng vào loại bậc thầy. Thứ nhất, từ ngữ bà sử dụng rất hiểm hóc, hiểm hóc một cách tự nhiên, không mài dũa, trau chuốt. Đó là công cụ đánh bại kẻ thù , đánh mạnh, đánh lắt léo, đau mà đối phương không dám kêu, chỉ dám ngậm miệng căm tức. Như bài Mắng học trò dốt II, là một bài thơ ứng khẩu, chỉ cần một chữ “phường lòi tói” thôi là đã cho thấy hết bản chất ngu dốc mà thích khoe khoang của bọn học trò dốt, đồng thời cho thấy cái khinh miệt của nữ nhà thơ đến hạng người này. Cách sử dụng ngôn từ ở đây rất tự nhiên, như câu cửa miệng, mà đắt giả, hiểm hóc vô cùng. Thứ hai, Từ ngữ hết sức gợi tả trăng thu thì “đỏ lòm lom”, nước hay gió thì “vỗ phập phòm”, “rơi lõm bõm” . Bà thường xuyên sử dụng từ láy, sử dụng rất tài tình. Không thể không kể đến lối nõi ỡm ờ, nói lái như trong các truyện cười của dân gian, khi cần có thể văng tục “Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo” Chùa Quán Sứ “Đầu sư há phải gì… bà cốt Bá ngọ con ong bé cái nhầm. Sư bị ong châm “Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng Chém cha cái kiếp lấy chồng chung” Làm lẽ Khả năng mô phỏng âm thanh trong thơ Hồ Xuân Hương cũng rất tài tình “Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông Nó bảo nhau rằng ấy ái uông.” Mắng học trò “Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha” Sư hổ mang Một điểm quan trọng trong việc sử dụng ngôn từ của Hồ Xuân Hương đó là hiện tượng xưng tên trong tác phẩm “Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Hương mới quệt rồi” Mời trầu Việc xưng tên trong tác phẩm chính là biểu hiện rõ ràng nhất của việc thức tỉnh cái tôi cá nhân, và thoát li dần dần khỏi thi pháp trung đại. Đặc trưng thi pháp trung đại là phi ngã, coi trọng cái ta, cái tôi cá nhân không được nhắc đến, chứ đừng nói xưng tên trong bài thơ. Sự sụp đổ của chế độ phong kiến, cùng với sự biến đối tư tưởng xã hội đã tạo điều kiện cho cái tôi thức tỉnh, và thời kì này cũng không ít nhà thơ đã bắt đầu đưa tên vào tác phẩm. Chúng ta có Nguyễn Du “Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”, hay Nguyễn Công Trứ “Ông Hy Văn tài bộ đã vào lồng”. Là một người phụ nữ, vốn bị coi rẻ trong xã hội, đặt ngang với hiện tượng xưng tên của các nam thi sĩ trên, vị thế của Hồ Xuân Hương càng trở nên đặc biệt. Còn một điểm cần lưu ý nữa Nếu các nhà thơ nam kia chỉ xưng tên hiệu, thì Xuân Hương đã xưng tên thật, cách khẳng định còn có phần mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn. Như vậy, việc xưng tên trong thơ Hồ Xuân Hương chính là biểu hiện của một cái tôi ngang tàn, mãnh liệt Hồ Xuân Hương. Nhưng không chỉ có thế, cùng với sự xuất hiện của cái tôi Hồ Xuân Hương, thì “thân em” cũng chính thức bước từ ca dao dân ca vào địa hạt của văn học viết. Có lẽ Hồ Xuân Hương là nữ sĩ đầu tiên đặt vấn đề về người phụ nữ ở góc nhìn thứ nhất, là một người phụ nữ, nói về một người phụ nữ, và có lẽ, ở Hồ Xuân Hương, lần đầu tiên “thân em” tội nghiệp của ca dao bước vào địa hạt của văn chương bác học, vẫn giữ nguyên những cảm xúc, nỗi niềm từ ca dao, nhưng đặt trong một lớp vỏ nghệ thuật điêu luyện hơn, sắc sảo hơn. Bên cạnh đó, ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày, khẩu ngữ, thành ngữ, tục ngữ, cũng được Hồ Xuân Hương sử dụng linh hoạt đến “ghê người” từ dùng của Giáo sư Lê Trí Viễn. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM ––––––––––––––––––––– ĐÀM THỊ ĐÀO THƠ NÔM TỨ TUYỆT TRÀO PHÚNG HỒ XUÂN HƢƠNG LUẬN VĂN THẠC LUẬN SĨVĂN NGÔN THẠC NGỮSĨVÀ VĂN VĂN HỌC HÓA VIỆT NAM Thái Nguyên - 2015 Thái Nguyên - 2015 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM ––––––––––––––––––––– ĐÀM THỊ ĐÀO THƠ NÔM TỨ TUYỆT TRÀO PHÚNG HỒ XUÂN HƢƠNG Chuyên ngành Văn học Việt Nam Mã số 60 22 01 21 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM Ngƣời hƣớng dẫn khoa học TS. NGÔ GIA VÕ Thái Nguyên - 2015 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài luận văn khoa học “Thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương” với các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác, hoàn toàn là công trình nghiên cứu của tôi. . Tác giả luận văn Đàm Thị Đào Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN i Lời cảm ơn Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn - Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, Khoa Sau đại học Trường Đại học Sư Phạm - Đại học Thái Nguyên. - Các thầy, cô giáo ở Viện Văn học, Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, Trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên đã trực tiếp giảng dạy tôi trong suốt khoá học. Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Ngô Gia Võ, người đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình viết luận văn. Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Tác giả luận văn Đàm Thị Đào Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ii MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan………………………………………………………………......i Lời cảm ơn…………………………………………………………………....ii Mục lục…………………………………………………………………….....iii MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................ 1 2. Lịch sử vấn đề .................................................................................................... 2 3. Mục đích nghiên cứu .......................................................................................... 6 4. Đối tượng nghiên cứu......................................................................................... 6 5. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................ 7 6. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 7 7. Cấu trúc luận văn................................................................................................ 8 8. Đóng góp của đề tài............................................................................................ 9 Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ...........................................................10 Một số khái niệm liên quan đến đề tài ..........................................................10 Thơ tứ tuyệt ................................................................................................10 Thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng .....................................................................15 Những tiền đề lịch sử, văn hóa, xã hội tạo nên hiện tượng Hồ Xuân Hương ...........18 trí Hồ Xuân Hương trong dòng thơ Nôm Đường luật trào phúng và trong văn học trào phúng thời trung đại ........................................................................20 Quy mô, số lượng thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương ...............27 Chƣơng 2. THƠ NÔM TỨ TUYỆT TRÀO PHÚNG HỒ XUÂN HƢƠNG NHÌN TỪ PHƢƠNG DIỆN NỘI DUNG .........................................................30 Hệ thống đề tài ..............................................................................................30 Đối tượng, nội dung trào phúng ....................................................................33 Tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho người phụ nữ ...............33 Những vấn đề xã hội ..................................................................................45 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN iii Mục đích, ý nghĩa trào phúng .......................................................................53 Chƣơng 3. THƠ NÔM TỨ TUYỆT TRÀO PHÚNG HỒ XUÂN HƢƠNG NHÌN TỪ PHƢƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT ..................................................56 Ngôn ngữ trào phúng.....................................................................................56 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương với văn học dân gian .........56 Ngôn ngữ nghệ thuật độc đáo, tài hoa........................................................62 Nghệ thuật cái “tục” ......................................................................................67 Các ý kiến bàn về vấn đề tục và dâm trong thơ Hồ Xuân Hương .................67 Số lần xuất hiện, trường hợp xuất hiện cái tục...........................................70 Cái tục với ý nghĩa phê phán, châm biếm, đả kích cường quyền và thần quyền phong kiến .................................................................................................73 Cái tục với ý nghĩa khẳng định khát vọng tự nhiên, ca ngợi hạnh phúc trần tục, đòi tự do và giải phóng con người. ...............................................................76 KẾT LUẬN .........................................................................................................80 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................84 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN iv MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Văn học Việt Nam ra đời trong khi văn học Trung Quốc đã có một bề dày phát triển. Tuy nhiên, cha ông ta đã cố gắng vượt qua sự ràng buộc của ngôn ngữ Hán bằng cách tạo ra một văn tự mới chữ Nôm. Từ thể loại thơ Đường luật chữ Hán, ông cha ta đã vận dụng và chuyển hóa thành hình thức sáng tác bằng ngôn ngữ dân tộc là thơ Nôm Đường luật. Việt Nam là quốc gia có vị trí địa lý nằm gần hai cái nôi văn minh lớn của nhân loại Ấn Độ và Trung Quốc. Quan hệ Việt Nam và Trung Quốc núi liền núi, sông liền sông lại càng có ý nghĩa. Ở Việt Nam, từ thế kỷ thứ X trở về sau, nhân tài được lựa chọn qua thi cử ngày càng nhiều. Khoa thi ở các triều đại Lý, Trần, Lê… sĩ tử đều có những bài liên quan đến thơ, mà thơ Đường luật là chính. Bằng con đường như thế, thơ Đường luật xuất hiện ngày càng nhiều trong tiến trình văn học trung đại Việt Nam. Từ thế kỷ XIII, chữ Nôm đã xuất hiện nhưng theo các tài liệu hiện có phải đến thế kỷ XV, trở thành ngôn ngữ văn học. Thể thơ Đường luật ở Trung Quốc thường gắn liền với những nội dung trang trọng, chính thống theo quan điểm “Thi dĩ ngôn chí” nhưng khi cha ông ta dùng chữ Nôm để sáng tác theo thể thơ này, đã đưa vào đó những vấn đề mới mẻ như nội dung trào phúng, những tình cảm đời thường, bình dị, những vấn đề dân dã của thôn quê… Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi thấy bộ phận thơ Nôm Đường luật trào phúng đã xuất hiện từ sáng tác của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông và các tác giả thời Hồng Đức, kéo dài cho đến hết thời kỳ trung đại, tạo thành một dòng chảy riêng biệt, có những đóng góp độc đáo cả về phương diện nội dung tư tưởng cũng như hình thức nghệ thuật. Đây là một thể thơ góp phần quan trọng vào sự phát triển của văn học dân tộc. Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về thơ tứ tuyệt trào phúng. Việc đi sâu vào tìm hiểu hiện tượng Hồ Xuân Hương với dòng thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng chính là mục đích của đề tài. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 1 Tứ tuyệt là một thể thơ được coi là “cao diệu” trong thơ Đường đồng thời cũng là mảng thơ thành công nhất của Hồ Xuân Hương. Điều thú vị là, trước Hồ Xuân Hương, rất hiếm tác giả Việt Nam dùng thể thơ tứ tuyệt để trào phúng. Hồ Xuân Hương thì ngược lại. Đây là một sự phát triển mang tính đột biến trong dòng thơ Nôm Đường luật ở nước ta. Hơn nữa, thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương với những giá trị độc đáo cho đến nay vẫn chưa được khảo cứu, đánh giá toàn diện, kỹ càng. Vì vậy, mảng thơ này rất xứng đáng trở thành đối tượng nghiên cứu cho những ai đã từng tâm huyết với thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương nói riêng và thơ Nôm Đường luật nói chung. Hồ Xuân Hương đã từng được Xuân Diệu mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”. Sáng tác thơ Nôm của bà đánh dấu quá trình phát triển rực rỡ của thể loại thơ Nôm Đường luật, khẳng định một bước tiến quan trọng của ngôn ngữ thơ ca dân tộc. Và điều đáng chú ý là trong sáng tác của Hồ Xuân Hương, bộ phận trào phúng có vị trí độc đáo và tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của nữ sĩ. Đây là một tác giả khá quen thuộc được giảng dạy trong chương trình văn học nhà trường. Do đó, tìm hiểu thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng của Hồ Xuân Hương sẽ có giá trị lý luận và giá trị thực tiễn đối với người giáo viên văn học. 2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ Những vấn đề liên quan đến Hồ Xuân Hương Cuộc đời, thân thế, sự nghiệp và văn bản tác phẩm Trước Cách mạng tháng Tám, Hồ Xuân Hương được khẳng định là một tác gia văn học, tác giả của nhiều bài thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng. Điều này được khẳng định qua những tác phẩm Hồ Xuân Hương – tác phẩm, thân thế và văn tài của Nguyễn Văn Hanh, Việt Nam văn học sử yếu và Quốc văn trích diễm của Dương Quảng Hàm, Giai nhân dị mặc của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Nam thi hợp tuyển của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc… Sau Cách mạng, đặc biệt là sau 1954, trong Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam của nhóm tác giả Lê Trí Viễn, Phan Côn, Đặng Thanh Lê, Phạm Luận, Lê Hoài Nam, Văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XVIII – nửa cuối thế kỷ XIX của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 2 Nguyễn Lộc, Lịch sử văn học Việt Nam của nhiều tác giả, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX của nhóm tác giả Đặng Thanh Lê, Phạm Luận, Hoàng Hữu Yên…đều khẳng định rằng có một tác giả Hồ Xuân Hương với những bài thơ Nôm tứ tuyệt. Tuy nhiên, việc chọn những bài thơ Hồ Xuân Hương vẫn chưa có sự thống nhất ở các công trình nghiên cứu. Nghiên cứu về thân thế, cuộc đời và văn bản tác phẩm Hồ Xuân Hương bắt đầu có những biến đổi, phát triển vượt bậc từ khi nhà nghiên cứu văn học Trần Thanh Mại cho đăng một loạt bài trên Tạp chí văn học như Phải chăng Hồ Xuân Hương còn là một nhà thơ chữ Hán, Trở lại vấn đề Hồ Xuân Hương, Bản "Lưu Hương ký" và lai lịch phát hiện của nó,… Sau đó xuất hiện hàng loạt bài của các tác giả khác tiếp tục tranh luận, đi sâu vào vấn đề tiểu sử và văn bản tác phẩm của Hồ Xuân Hương như Tảo Trang, Nam Trân, Đào Thái Tôn,... Đặc biệt chú ý là hai công trình nghiên cứu của tác giả Đào Thái Tôn là Hồ Xuân Hương – từ cội nguồn vào thế tục và Hồ Xuân Hương – tiểu sử, văn bản, tiến trình huyền thoại dân gian hóa. Trong những bài viết của mình, Đào Thái Tôn đã tổng kết khá hệ thống tất cả những vấn đề có liên quan đến tiểu sử và văn bản thơ Hồ Xuân Hương, đã góp phần khẳng định Hồ Xuân Hương còn là một nhà thơ chữ Hán và lập luận đầy thuyết phục về tiểu sử của bà, đi tới kết luận bà là con của Hồ Sỹ Danh, em của Hồ Sỹ Đống. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một quan điểm thống nhất về văn bản thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương, mỗi tác giả vẫn lựa chọn cho mình một quan điểm khác biệt. Giá trị nội dung tƣ tƣởng trong thơ Hồ Xuân Hƣơng Các công trình nghiên cứu đều khẳng định và đánh giá rất cao giá trị nhân văn của thơ Hồ Xuân Hương, đều tập trung làm nổi bật ý thức chống phong kiến, khát vọng đời sống tự nhiên, giá trị nhân đạo của thi phẩm Hồ Xuân Hương. Tiêu biểu cho các công trình ấy là Hồ Xuân Hương với các giới phụ nữ, văn học và giáo dục của Văn Tân, phần viết về Hồ Xuân Hương trong Các nhà thơ cổ điển Việt Nam của Xuân Diệu, Hồ Xuân Hương – tác phẩm, thân thế và văn tài của Nguyễn Văn Hanh, Một bức thư của Chế Lan Viên, Góp thêm một tiếng nói Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 3 trong việc đánh giá thơ Hồ Xuân Hương, hay trong Văn nghệ bình dân Việt Nam của tác giả Trương Tửu… Tuy có những ý kiến đối lập nhau nhưng đều thừa nhận thơ Hồ Xuân Hương có giá trị nội dung tư tưởng đặc sắc, có sức sống lâu bền với thời gian. Giá trị nghệ thuật của thơ Hồ Xuân Hƣơng Nhiều bài viết và công trình nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu giá trị nghệ thuật trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Tài năng nghệ thuật của bà đã được khẳng định và đánh giá rất cao trong nền văn học dận tộc từ xưa đến nay. Tiêu biểu là các công trình Hồ Xuân Hương – tác phẩm, thân thế và văn tài của Nguyễn Văn Hanh, đến Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm,… Càng về sau, vấn đề nghệ thuật trong thơ bà càng được nghiên cứu nhiều hơn. Trên thực tế, Lê Tâm là người đầu tiên phong cho Hồ Xuân Hương danh hiệu “Bà chúa thơ Nôm” trong Thân thế và thi ca Hồ Xuân Hương – Bà chúa thơ Nôm. Sau đó, bằng năng lực cảm thụ tinh tế, bằng sự hiểu biết sâu sắc văn hóa trung đại và kinh nghiệm sáng tạo thơ của mình, Xuân Diệu đã phân tích và khẳng định Hồ Xuân Hương là một trong “ba thi hào dân tộc” lớn, có vị trí xứng đáng trên thi đàn trung đại. Khi nghiên cứu giá trị nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hương, một số tác giả đã đi sâu vào mối quan hệ chặt chẽ giữa thơ Hồ Xuân Hương và văn học dân gian. Tiêu biểu là bài viết của tác giả Đặng Thanh Lê Hồ Xuân Hương – bài thơ "Mời trầu", cộng đồng truyền thống và cá tính sáng tạo trong mối quan hệ văn học dân gian và văn học viết và bài viết của Nguyễn Đăng Na Thơ Hồ Xuân Hương với văn học dân gian... Trong các công trình nghiên cứu đó, Nguyễn Đăng Na đã chứng minh được rằng Hồ Xuân Hương đã “nghĩ cái nghĩ dân gian, cảm cái cảm dân gian”[28, Ở một khía cạnh khác, tác giả Đỗ Đức Hiểu trong Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hương đã đi sâu vào khám phá nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân Hương như một thế giới nghệ thuật với hệ thống hình ảnh, hình tượng và những trạng thái, tính chất riêng, độc đáo nói lên một cá tính sáng tạo rất Xuân Hương trong lịch Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 4 sử thơ ca trung đại Việt Nam. Tâm lý sáng tạo của Hồ Xuân Hương cũng đã được Nguyễn Hữu Sơn tìm hiểu trong Tâm lý sáng tạo trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương, trong công trình đó, tác giả đã lý giải tư duy nghệ thuật đặc sắc của một người phụ nữ luôn ý thức về thân phận mình. Trong giới hạn nghiên cứu giá trị nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hương, từ đầu thế kỉ XX đến nay, giới nghiên cứu Việt Nam ngày càng đi sâu hơn vào bản chất nghệ thuật phong phú và đặc sắc trong thơ nữ sĩ ở tất cả các phương diện như thể loại, bút pháp, thi pháp, cá tính sáng tạo, tài nghệ ngôn ngữ…. Các thành tựu nghiên cứu đó đều góp phần khẳng định nghệ thuật độc đáo của “Bà chúa thơ Nôm” trong nền thơ dân tộc. Vấn đề trào phúng trong thơ Nôm Hồ Xuân Hƣơng Trong các công trình nghiên cứu về Hồ Xuân Hương, chúng ta nhận thấy vấn đề trào phúng được coi là một đóng góp quan trọng của nữ sĩ vào lịch sử văn học. Thơ tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương chiếm số lượng nhiều nhất, là bộ phận có giá trị nhân đạo sâu sắc nhất trong thơ Nôm của bà. Vì vậy, hầu như tất cả các bộ lịch sử văn học đều khẳng định bà trong tư cách một nhà thơ trào phúng vào loại xuất sắc nhất của dân tộc. Một trong những tác giả đầu tiên nghiên cứu về Hồ Xuân Hương trong mối quan hệ với dòng thơ Nôm Đường luật trào phúng Việt Nam là Giáo sư Đặng Thanh Lê. Trong công trình Hồ Xuân Hương và dòng thơ Nôm Đường luật, tác giả “đã đặt những sáng tác của bà trong sự phát triển của “Dòng thơ Nôm Đường luật”, phác họa một số nét cơ bản trong sự vận động của thể loại, đồng thời nêu bật những đóng góp của Hồ Xuân Hương về cảm hứng và biện pháp nghệ thuật” [22, Tác giả Nguyễn Sĩ Đại cũng đã đề cập đến Hồ Xuân Hương ở công trình Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường. Chúng tôi sẽ tiếp cận Hồ Xuân Hương với tư cách một tác gia trào phúng từ góc độ thể loại thơ Nôm Đường luật, đặc biệt là bộ phận thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng để thấy được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của bà đối với sự phát triển của thể loại thơ Nôm Đường luật nói chung và thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng nói riêng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 5 3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Tập hợp những bài thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương và nghiên cứu đặc điểm của chúng trên hai phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật qua một số vấn đề như đề tài, đối tượng, nội dung, mục đích và thái độ trào phúng; bút pháp và ngôn ngữ nghệ thuật trào phúng; trong quá trình đó có so sánh thơ Hồ Xuân Hương với thơ của các nhà thơ trước. Từ đó, luận văn sẽ đi tới khẳng định vai trò của Hồ Xuân Hương trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc. Phân tích hệ thống thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương ở khía cạnh nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật qua một số vấn đề như đề tài, đối tượng, nội dung, mục đích, thái độ trào phúng, bút pháp và ngôn ngữ nghệ thuật trào phúng,…Qua đó, luận văn sẽ làm sáng tỏ tài năng nghệ thuật và cá tính sáng tạo độc đáo của bà, tạo ra bước phát triển mới về chất lượng nghệ thuật trong dòng thơ Nôm Đường luật Việt Nam. Trên cơ sở tập hợp và phân tích những tác phẩm thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng của Hồ Xuân Hương, luận văn sẽ góp phần khẳng định được vị thế độc đáo của Hồ Xuân Hương trong tiến trình phát triển của thơ ca dân tộc. Hồ Xuân Hương là người mở đầu cho thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Việt Nam và đã đưa thể thơ này đến đỉnh cao về giá trị tư tưởng cũng như giá trị nghệ thuật. 4. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu trọng tâm của luận văn là thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương. Thơ Nôm Hồ Xuân Hương có rất nhiều văn bản, như Xuân Hương thi tập, XNB Xuân Lan, 1913, Hồ Xuân Hương thơ và đời của Lữ Huy Nguyên và hàng trăm các văn bản khác. Tuy nhiên, chúng tôi chọn văn bản Thơ Hồ Xuân Hương Nguyễn Lộc tuyển chọn và giới thiệu, NXB Giáo dục, H, 1982 làm văn bản nghiên cứu chính. Đây là văn bản chọn các bài thơ theo “phong cách nghệ thuật Hồ Xuân Hương”, gồm 40 bài. Văn bản này của Nguyễn Lộc có số lượng không quá ít nhưng cũng không quá nhiều, lại là những bài thơ khá phổ biến, xuất hiện ở nhiều tuyển tập thơ Hồ Xuân Hương và đã tồn tại hơn 30 năm nay, được giới Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 6 nghiên cứu văn học thừa nhận và sử dụng khá rộng rãi. Tất nhiên, trong quá trình tìm hiểu, rất có thể chúng tôi vẫn phải mở rộng những liên hệ của mình ra các văn bản khác để kết quả nghiên cứu có thêm sức thuyết phục. Ngoài ra có sự so sánh với một số văn bản khác như Xuân Hương thi tập, NXB Xuân Lan, 1913; Quốc văn tùng ký của Hải Châu Tử Nguyễn Văn San; Hồ Xuân Hương thơ và đời của Lữ Huy Nguyên; Hồ Xuân Hương – tiểu sử, văn bản, tiến trình huyền thoại dân gian hóa của Đào Thái Tôn… 5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Về phạm vi nghiên cứu, luận văn xác định một số khái niệm thơ tứ tuyệt, thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng… là những khái niệm có vị trí quan trọng trong việc xử lý đề tài. Trong khi nghiên cứu thơ Nôm Đường luật trào phúng nói chung, thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng nói riêng, cần phân biệt được hai vấn đề về mức độ trào phúng là yếu tố trào phúng và tác phẩm trào phúng. Trên cơ sở đó, người viết sẽ nghiên cứu thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương ở khía cạnh nội dung với hệ thống đề tài; đối tượng, nội dung và mục đích, ý nghĩa trào phúng và khía cạnh nghệ thuật với ngôn ngữ trào phúng; nghệ thuật cái tục. 6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phƣơng pháp thống kê, phân loại Phương pháp này sẽ cho người viết một cái nhìn tổng thể về số lượng thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương. Việc thống kê, phân loại này càng đầy đủ, chi tiết, khoa học, càng tạo ra những cơ sở xác thực cho các luận điểm của đề tài. Trên cơ sở thống kê, người viết xếp riêng những bài thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng để làm cứ liệu phân tích, đánh giá. Trong quá trình thống kê phân loại, người viết phải tham khảo, học tập ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu để việc khẳng định các bài thơ tứ tuyệt trào phúng thêm chính xác. Tuy nhiên, quan điểm về thơ tứ tuyệt trào phúng rất đa dạng nên có thể thống kê của chúng tôi sẽ không tránh khỏi những sai sót. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 7 Đơn vị thống kê sẽ là những bài thơ có yếu tố trào phúng, người viết sẽ chỉ ra những câu thơ trào phúng để tiện theo dõi và đánh giá. Còn cả bài thơ được viết với mục đích trào phúng, xây dựng được một hình tượng trào phúng hoàn chỉnh thì đương nhiên có mặt trong bản thống kê, phân loại của chúng tôi. Thống kê, phân loại những bài thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hương theo tiêu chí và nội dung nghiên cứu của đề tài sẽ giúp cho quá trình nghiên cứu có cơ sở dữ liệu về văn bản, tránh những khái quát mang tính võ đoán, suy biện. Phƣơng pháp phân tích tổng hợp Đánh giá khảo sát toàn bộ những tư liệu thống kê, phân tích các dẫn chứng, rút ra những kết luận khoa học về thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng. Với việc phân tích này, người viết tiến hành đồng thời cả hai phương diện phân tích đặc điểm nội dung tư tưởng và phân tích hình thức nghệ thuật của bài thơ, câu thơ. Sau khi phân tích, chỉ ra những đặc điểm của từng tác giả, luận văn sẽ tổng hợp và đánh giá khái quát vấn đề, rút ra những luận điểm khoa học chính. Phƣơng pháp so sánh đối chiếu Luận văn sẽ tiến hành so sánh đối chiếu trên các phương diện sau + So sánh thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương với thơ Nôm Đường luật trữ tình của bà. + So sánh phong cách nghệ thuật, đóng góp về giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương với các tác giả khác, đặc biệt là các tác giả trước đó như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm. + So sánh đặc trưng thể loại thơ Hồ Xuân Hương với các yếu tố và thể loại trào phúng trong văn học dân gian. 7. CẤU TRÚC LUẬN VĂN Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương Chương 1 Những vấn đề chung. Một số khái niệm liên quan đến đề tài Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 8 Những tiền đề lịch sử, văn hóa, xã hội tạo nên hiện tượng Hồ Xuân Hương Vị trí Hồ Xuân Hương trong dòng thơ Nôm Đường luật trào phúng và trong văn học trào phúng thời trung đại Quy mô, số lượng thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương Chương 2 Thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương nhìn từ phương diện nội dung. Hệ thống đề tài Đối tượng, nội dung trào phúng Mục đích, ý nghĩa trào phúng Chương 3 Thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương nhìn từ phương diện nghệ thuật Ngôn ngữ trào phúng Nghệ thuật cái “tục” 8. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI + Đề tài được hoàn thành sẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương, một mảng thơ quan trọng trong việc khẳng định cá tính sáng tạo và vị thế Hồ Xuân Hương trong tiến trình thơ ca dân tộc. + Trên cơ sở phân tích giá trị nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương, luận văn sẽ trở thành một tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên và giáo viên văn học phổ thông. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 9 PHẦN NỘI DUNG CHÍNH Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG Thơ tứ tuyệt ra đời từ bao giờ? Hiện nay vẫn có nhiều ý kiến bàn luận về vấn đề này. Có nhiều ý kiến cho rằng thơ tứ tuyệt có mầm mống từ Kinh thi ra đời cách đây năm, vào khoảng thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, có một số ý kiến lại cho rằng thơ tứ tuyệt xuất hiện từ thời Lục Triều 281 – 618. Tứ tuyệt không những đạt được thành tựu rực rỡ ở đời Đường mà còn có sinh mệnh lâu dài vào bậc nhất trong lịch sử văn học Trung Quốc cũng như trong lịch sử văn học một số nước phương Đông, trong đó có Việt Nam. Ở những nước khác, tuy không có tên gọi là “tứ tuyệt” song cũng có những loại hình tương tự. Bởi vậy, việc nêu ra những đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường không chỉ góp phần làm sáng tỏ thêm vẻ đẹp của một hiện tượng độc đáo của thơ ca Trung Quốc mà còn cung cấp được những nhận định, tư liệu có thể làm căn cứ so sánh, tham khảo để tìm hiểu thêm những hiện tượng cùng loại hình, để xử lý một số vấn đề của lý luận và thực tiễn của thơ ca hiện nay. “Tứ tuyệt! Tứ tuyệt là một thể thơ rất khó, phải tập trung, hàm súc và cần có một sáng tạo gì như là một sự bất ngờ, một uẩn khúc, trong bốn câu” [7, Do hạn chế về số chữ, nhất định thơ Nôm tứ tuyệt nói chung và thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng nói riêng không thể đi vào miêu tả chi tiết hiện thực, không thể trình bày sự việc một cách có đầu có cuối theo trình tự thời gian. Thiên về khái quát, nó là một tất yếu. Nhưng sự khái quát không thể bắt đầu từ chủ quan. Vì vậy, thơ tứ tuyệt ngoài lựa chọn loại sự vật để phản ánh còn phải chọn nét tiêu biểu nhất mang tính bản chất của sự vật đó. Hiện thực trong thơ tứ tuyệt phải bảo đảm được tính chất của một tiểu vũ trụ. Một số khái niệm liên quan đến đề tài Thơ tứ tuyệt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 10 Ở Việt Nam chúng ta, từ khi có văn học viết là đã có ngay thơ tứ tuyệt. Ban đầu, chúng ta phải sáng tác bằng chữ Hán cho nên thơ tứ tuyệt luật Đường đã xuất hiện ngay từ thế kỷ X. Khái niệm thơ tứ tuyệt vì vậy cũng đã được nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam quan tâm. Theo nhà nghiên cứu Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức trong cuốn Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại, nghĩa chữ “tứ tuyệt” ở đây gồm 4 câu cắt ra từ một bài bát cú. Có bốn cách cắt + Cắt bốn câu trên, thành ra bài thơ ba vần, hai câu trên không đối nhau, hai câu dưới đối nhau. Ví dụ XUÂN Khí trời ấm áp đượm hơi dương Thấp thoáng lâu dài vẻ ác vàng Rèm liễu líu lo oanh hót hót gió, Giậu hoa phấp phới bướm chân hương. Khuyết danh – Phỏng dịch thơ chữ Hán của bà Ngô Chi Lan + Cắt bốn câu giữa, thành ra bài thơ hai vần, bốn câu đều đối nhau. Ví dụ KHI TẦU CẬP BẾN Gió đưa dương liễu cành cành nguyệt Cụm tỏa ngô đồng lá lá sương Thuyền mọn năm canh người bãi Hán Dịch dài một tiếng khách Tầm dương. Phan Thanh Giản + Cắt hai câu dưới, thành ra bài thơ hai vần, hai câu đầu đối nhau, hai câu dưới không đối. Ví dụ ĐỜI NGƢỜI Người hết danh không hết Đời còn việc vẫn còn Tội gì lo tính quẫn, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 11 Lập những cuộc con con. Khuyết danh + Cắt hai câu đầu, hai câu cuối, thành ra bài thơ ba vần, cả bốn câu không đối. Ví dụ TRỜI NÓI Cao cao muôn trượng ấy là tao Dẫu pháo thăng thiên chả tới nào Nhắn nhủ dưới trần cho chúng biết Tháng ba, tháng tám tớ mưa rào. Nguyễn Khuyến Giáo sư Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu khẳng định “Tứ nghĩa là bốn, tuyệt nghĩa là dứt, ngắt. Lối này gọi thế vì thơ tứ tuyệt là ngắt lấy bốn câu trong bài bát cú mà thành”. Rồi ông dẫn ra năm cách ngắt khác nhau + Ngắt bốn câu trên Thấy dân rét mướt nghĩ mà thương Vậy phải lên ngôi gỡ mối giường Tay ngọc lăn đưa thoi nhật nguyệt Gót vàng dậm đạp máy âm dương. Lê Thánh Tông + Ngắt bốn câu dưới Vắt vẻo sườn non Trao Lơ thơ mấy ngọn chùa Hỏi ai là chủ đó Có bản tớ xin mua. Vô danh + Ngắt hai câu đầu, hai câu cuối Những lúc say sưa cũng muốn chừa Muốn chừa nhưng tính lại hay ưa Hay ưa nên nỗi không chừa được Chừa được nhưng mà cũng chẳng chừa. Nguyễn Khuyến Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 12 +Ngắt bốn câu giữa Lởm chởm gừng vài khóm Lơ thơ tỏi mấy hàng Vẻ chi là cảnh mọn Mà cũng đến tang thương. Nguyễn Gia Thiều + Ngắt câu 1+ 2 và 5 + 6 Bác mẹ sinh ra vốn áo sồi Chốn nghiêm thăm thẳm một mình ngồi Tép miệng năm ba con kiến gió Nghiến răng chuyển động bốn phương trời. Lê Thánh Tông Tác giả Trần Trọng Kim và Trần Đình Sử cũng theo quan điểm này. Giáo sư Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức trong Thơ ca Việt Nam – hình thức và thể loại cho rằng … “Như vậy, thơ Đường luật hoặc cũng gọi một cách khái quát, thơ cách luật, là thể thơ được đặt ra từ đời Đường…có ba loại ngũ ngôn, lục ngôn và thất ngôn. Thơ cách luật chia làm ba thể thể tiểu luật gọi là tuyệt cú Việt Nam gọi là tứ tuyệt,…thể luật thi gọi là bát cú…” [31, Hai ông cũng đã giải thích thêm về thơ tứ tuyệt như sau + Tuyệt có nghĩa là cắt ra từ bài bát cú. + Tuyệt cũng là cắt, là đứt, nhưng là đứt câu, dừng bút để trọn ý cho một bài, sau khi viết câu thứ tư. Bởi vì một câu chưa thành thơ; hai câu mới thành một vế đối liên, ít nhất bốn câu mới có vần, khi đó mới thành một bài thơ. Theo nhà biên dịch thơ Đường, Trần Trọng Kim “Thơ tuyệt cú là lối thơ làm bốn câu hai ba vần…” [18, Theo Đào Thái Sơn trong Khái luật về thơ tứ tuyệt thì cách hiểu của các vị trên đây về thơ tứ tuyệt coi như là cơ bản được nhiều người chấp nhận nhất. Bên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 13 cạnh đó thì một số người lại giải thích bằng một cách hiểu khác. Theo Bùi Kỷ viết trong Quốc văn cụ thể “Tuyệt là tuyệt diệu, mỗi câu chiếm một vị trí đặc biệt. Chỉ trong bốn câu mà thiền thâm, ẩn hiển, chinh kỳ, khởi phục đủ cả cho nên gọi là tuyệt” [20, Còn nhà nghiên cứu Lạc Nam Phan Văn Nhiễm trong Tìm hiểu các thể thơ “Thơ bốn câu gọi là tứ tuyệt, người Trung Quốc gọi là tuyệt cú, tức là bài thơ hay tuyệt vời, vì chỉ có bốn câu 20 từ hoặc 28 từ mà nói lên được đầy đủ ý tứ của một đề tài theo đúng luật lệ của thơ Đường”[29, Có thể nói các nhà nghiên cứu ai cũng có lý do cho cách phân tích biện giải của mình. Điều đó càng chứng tỏ sự phong phú, phức tạp và rất kỳ diệu của thơ tứ tuyệt. Nếu theo cách hiểu thứ nhất thì ta có một số cách cắt bốn câu của một bài bát cú thành một bài tứ tuyệt theo niêm luật của một bài bát cú. Nếu hiểu thơ tứ tuyệt theo cách hiểu thứ hai và mở rộng thêm thì một bài thơ không dứt khoát phải làm theo cổ tuyệt hay luật tuyệt mới gọi là Nôm tứ tuyệt, mà chỉ cần một bài thơ Nôm ngắn có bốn câu làm theo thể thơ gì cũng được, miễn hay là tứ tuyệt. Cách hiểu này không phải không có lý mà còn có sự thông thoáng, mở rộng. Một bài thơ tứ tuyệt hay phải lựa chọn được những khoảnh khắc dồn nén của đời sống tinh thần, những hiện thực của tâm trạng, những phút thăng hoa của tâm linh…Phải dồn nén biểu cảm để tính khái quát của triết lý đạt tới cao độ. Còn theo như PGS. TS Lê Lưu Oanh và Ths Định Thị Nguyệt trong Thơ tứ tuyệt trong truyền thống văn hóa phương Đông thì thơ tứ tuyệt là một thể loại kết tinh được khá nhiều nét độc đáo của những giá trị tinh thần văn hóa phương Đông. Tứ tuyệt là một chỉnh thể vi mô toàn vẹn, số 4 trong quan niệm của nhân loại là một con số hoàn thiện nhất. Quy luật đối lập âm dương, đảm bảo cân bằng âm dương qua việc phối hợp các thanh bằng – trắc, các nhịp chẵn lẻ tạo thành một cấu trúc có quy luật với những quan hệ nội tại chặt chẽ, làm một bài tứ tuyệt dù rất nhỏ nhưng đảm bảo là một cấu trúc hình thức hoàn chỉnh cân xứng, nhịp nhàng, chặt chẽ, khó phá vỡ [36, Chính vì con số 4 chứa đựng được cả vũ trụ nên bài thơ tứ tuyệt được coi là một tổng thể toàn vẹn mang tính Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 14 Thơ Hồ Xuân Hương ❤️️ Tác Giả, Tác Phẩm + Tuyển Tập Thơ ✅ Tìm Hiểu Chi Tiết Về Cuộc Đời, Sự Nghiệp Sáng Tác Của Bà Chúa Thơ Nôm. Tiểu Sử Cuộc Đời Tác Giả Hồ Xuân Hương Giai Thoại Về Hồ Xuân Hương Giai Thoại 1Giai Thoại 2Sự Nghiệp Sáng Tác Nhà Thơ Hồ Xuân Hương Phong Cách Thơ Hồ Xuân Hương Nghệ Thuật Thơ Hồ Xuân Hương Tuyển Tập Các Tác Phẩm Của Nhà Thơ Hồ Xuân Hương 15 Bài Thơ Nổi Tiếng Của Hồ Xuân HươngBánh Trôi NướcThơ Tự TìnhVịnh Cái QuạtVấn NguyệtCảnh ThuChùa Hương TíchHọa NhânĐá Ông Chồng, Bà ChồngĐánh ĐuHỏi TrăngLấy Chồng ChungDuyên Kỳ NgộMời Ăn TrầuỐc NhồiQuả Mít Tiểu Sử Cuộc Đời Tác Giả Hồ Xuân Hương Cùng tìm hiểu chi tiết về cuộc đời tác giả Hồ Xuân Hương – người được mệnh danh là bà chúa thơ Nôm. Hồ Xuân Hương 1772 – 1822 là một thi sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, mà hiện tại vẫn khiến nhiều học giả tranh cãi. Cứ theo Giai nhân di mặc, Hồ Xuân Hương là ái nữ của Sinh đồ Hồ Phi Diễn 1704 – 1786, người hương Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, trấn Nghệ An nhưng sống chủ yếu ở kinh thành Thăng Long. Nữ sĩ có một ngôi nhà riêng ở gần Hồ Tây Hà Nội bây giờ lấy tên là Cổ Nguyệt Đường. Là một người phụ nữ tài hoa thế, có cá tính mạnh thế nhưng cuộc đời của bà vô cùng bất hạnh. Hồ Xuân Hương có hai đời chồng, hai lần đều làm lẽ và không hạnh phúc. Cuộc đời của bà vô cùng nhiều sóng gió thế nên những câu thơ như một lời tâm sự về cuộc đời của người phụ nữ tài hoa mà bất hạnh. Hồ Xuân Hương là một người đi nhiều nơi thế nên bà có mối quan hệ rất thân thiết với nhiều danh sĩ nổi tiếng. Đọc thêm về❤️️ Thơ Nôm Hồ Xuân Hương ❤️️30+ Bài Thơ Chữ Hán Hay, Nổi Tiếng Giai Thoại Về Hồ Xuân Hương Chia sẻ cho bạn một số giai thoại nổi tiếng về Hồ Xuân Hương sau đây. Giai Thoại 1 Giai thoại đầu tiên xuất hiện ngay sau khi bà từ Vĩnh Phú về dựng cổ nguyệt đường dạy học, làm thơ. Hôm ấy một viên quan lớn trong triều đi vãn cảnh hồ Tây. Trời trong, nước xanh- cảnh vật đẹp đến nao lòng vì bao nhiêu tinh tú của đất trời dường như tụ hội cả ở nơi đây. Nơi mà tâm hồn nhạy cảm của bà nhìn ra và quyết định dừng lại an cư lập nghiệp chứ không tiến vào kinh thành Thăng Long – nơi bao văn võ bá quan, dân kinh kỳ kẻ chợ có máu mặt đều tìm vào – vì vị trí khuất nẻo so với kinh thành…Tiếng quân lính hô hét dẹp đường, cảnh võng lộng nghênh ngang, tiền hô hậu ủng, phá tan cảnh đẹp của bầu trời nơi đây. Xuân Hương đang giặt ở ven hồ thấy chướng tai gai mắt, liền buông rải quần áo ven bờ, điềm nhiên nhìn thẳng vào kiệu của quan đang đi tới, ngẫm nghĩ trong đầu, tìm tứ thơ, rồi đọc to Võng điều quan lớn đi trên ấyVáy rách bà con giặt dưới này. Ví cái võng điều của quan lớn với váy rách của bà con quả là chua cay. Xem ra, quan thời xưa chả khác quan thời nay là mấy. Trong khi bà con khổ sở, cùng cực thì quan vơ vét hết cho bản thân. Nhà cao cửa rộng, vợ nọ con kia, còn ô dù võng lọng, nghêng ngang, quát lác, chỉ ăn tàn phá hại, có lợi gì cho dân đâu ? Nghe câu đối, cả thầy, cả tớ trợn mắt nhìn Xuân Hương, thấy phong thái ung dung, ngôn từ sóc lỏi, độc địa, biết không thể là đối thủ để nạt nộ, đành lẳng lặng đi qua như không hề nghe thấy…Chuyện này mà để lan truyền ra khắp kinh thành Thăng Long thì mặt quan thành mặt mo, còn nhục hơn bị bà con dùng váy rách che lên mặt. Từ đó, như quả pháo xịt ngòi, quan mất hẳn thói nghênh ngang, hống hách, đi đâu bỏ hết lính dẹp đường ở nhà, Hồ Tây trở lại với khung trời cao rộng, cây xanh, nước biếc, đẹp mê hồn. Giai Thoại 2 Giai thoại thứ hai bắt nguồn từ hai chữ cổ nguyệt ghép lại thành chữ Hồ có người cho là của Chiêu Hổ chòng ghẹo bà. Người cổ lại còn đeo thói nguyệtBuồng xuân chi để lạnh mùi hương ? Câu đối ghép lại đủ cả tên họ bà, còn tách ra lại là sự trách khéo “Đã tự coi là người cổ hủ, trọng nề nếp, gia phong lại còn thích thói hưởng nguyệt, xem hoa, lả lơi, thi phú ? Đang tuổi xuân thì còn hương sắc, mà không gìn giữ nền nếp, gia phong thì buồng xuân còn để lạnh đến bao giờ ? Sát nhà là đền Trấn Võ, có gác chuông cao, treo quả chuông lớn, nhiều chàng nho sĩ đến thăm, cũng học đòi, ti toe làm thơ. Vốn táo tợn, Xuân Hương chẳng chịu tha cho những kẻ đầy bồ chữ nghĩa, tưởng thênh thang học rộng, tài cao mà toàn đồ chè chai giấy lộn ấy. Xuân Hương quyết lộn trái chúng ra – Được gặp các thầy nơi đền cao cửa kín này thật vinh hạnh, thóang trông đã rõ các thầy tài học uyên bác. Dám xin các thầy một bài thơ được không ạ ? -Tưởng việc gì chứ thơ thì sẵn lắm, cô cứ ra đề cho. -Dạ tiện đây xin các thầy vịnh quả chuông luôn, cứ lấy vần uông làm vần. -Tưởng được gãi đúng chỗ ngứa, ai ngờ vớ phải quả chuông rè, chuông câm, ngoài hai tiếng kêu “bính boong” là hết, biết gắn vần uông vào chỗ nào đây ? Ngần ngừ, mãi vẫn tắc tị, một thầy đánh liều gạ gẫm – Vần uông không ổn cô ạ, hay là… Biết tỏng mớ chữ nghĩa giấy lộn trong đôi bồ của các thầy không mấy đáng giá, Hồ Xuân Hương tung chưởng cho họ rơi từ đỉnh gác chuông tới… tận đáy hồ, không sao mọc mũi sủi tăm lên được – Sao lại không ? Em thử làm vài câu cho các thầy nghe nhé Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông,Nó bảo nhau rằng ấy cái ở càng “sặc nước”, quần áo ướt sũng sĩnh vì mồ hôi, nước lạnh Hồ Xuân Hương dội lên đầu, các thầy đành ngớ ngẩn cười trừ rồi cút thẳng. Mỗi lần nhớ lại vần uông, cái chuông của thi sĩ họ Hồ, tên Hương lại buốt tận xương hông, không dám giở trò văn vẻ, chữ nghĩa ra trước bàn dân thiên hạ nữa. Cũng bởi nhà ở gần đền mà Hồ Xuân Hương hay thơ thẩn đi dạo, lần ấy đúng vào dịp Triều đình mở khoa thi, các sĩ tử, văn nhân từ khắp các tỉnh thành trong cả nước dập dìu về kinh thành Thăng Long dự thi rất đông. Trong số đó có “cậu ấm” con quan chánh chủ khảo kỳ thi, cùng đám bạn vàng giầu có. Nhân chơi hồ Hoàn Kiếm thấy cảnh Đền đẹp liền kéo vào. Để tỏ rõ tài thơ phú trước đám bạn vàng, cậu con chánh chủ khảo liền “ Tức cảnh sinh tình” vịnh luôn một bài “thẩn” đề vào ngay vách Đền làm “ kỷ niệm” Khen ai đổ đất đắp nên chùaMột nếp thù lù ở giữa hồ,Mặt nước bóng chiều đà bảng lảngLàm sao vẫn chửa thấy chuông khuơ. Xuân Hương đang thơ thẩn quanh đó, thấy mọi người cười cợt, chỉ trỏ, liền sà vào, bắt gặp bài thơ và tác giả “rặn thơ” liền ôm bụng cười ngặt nghẽo. Cười chán, bà mượn bút mực, vung tay đề tiếp bài thơ “cảnh tỉnh’ của mình bên cạnh để trả lời “cậu ấm” và một xâu đám bạn lòi tói- những cốc chén, sứt mẻ, rạn vành, gẫy quai, thích chơi trèo của chúng Dắt díu nhau lên đến cửa chiềnCũng đòi học nói, nói không nênAi về nhắn bảo phường lòi tóiMuốn sống đem vôi quét trả đền. Vỏ quýt dày có móng tay nhọn, gặp người khẩu khí chững chạc đến thế, cậu ấm đành phải dựa cột…để nghe cho thủng, xong bấm bụng, xủng xong lốc nhốc kéo cả xâu chuỗi về. Chẳng bao giờ dám khoe dại, khoe khôn nơi vách đền nữa. Đền được trả lại vẻ đẹp cổ kính, u tịch trang nghiêm ban đầu. Vì sau đó chẳng ai dám vượt mặt “Bà chúa Thơ Nôm” để đề “thẩn” lên tường, làm bẩn tường nữa. Lại một lần nữa, lúc này tiếng tăm của bà đã nổi khắp thành Thăng Long. Đang lững thững từ chùa Trấn Quốc về Cổ Nguyệt đường thì nghe có tiếng lơi lả, chòng ghẹo ở phía sau, biết rõ căn bệnh ăn không nên đọi, nói chẳng thành lời của các thầy, Xuân Hương lẳng lặng men theo men hồ, đến sát chân núi Nùng, cạnh nhà, mới dùng lời sắc như dao để cắt đuôi – Chả mấy khi được gặp các thầy, em xin đọc hầu các thầy một bài nhé Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơLại đây chị dạy phép làm thơOng non ngứa nọc châm hoa rữaDê cỏn buồn sừng húc dậu thưa. Nghe khẩu khí biết ngay là Hồ Xuân Hương, các thầy ngượng chín cả người. Tưởng đánh trống qua cửa nhà trời, ai ngờ sấm dội, mưa chan…gẫy cả dùi, vỡ cả trống. Tứ, ngũ túc dúm hết lại, suýt thì lộn cổ xuống hồ. Chờ cho Xuân Hương tung tăng vào hẳn trong nhà, các thầy mới dám xiêu vẹo bước. Thật chẳng cái dại nào giống cái dại nào. Đã ngứa nọc, buồn sừng lại gặp phải dậu thưa, hoa rữa, gỡ chẳng ra lại còn bị cười lỡm đến thối nọc, gẫy sừng. Sự Nghiệp Sáng Tác Nhà Thơ Hồ Xuân Hương Điểm qua các nét chính trong sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Hồ Xuân Hương. Tư liệu cuộc đời ít ỏi xung quanh Hồ Xuân Hương nhiều tranh cãi thế nhưng chúng ta không thể phủ nhận những giá trị trong thơ của bà mang lại cho độc giả. Tác phẩm của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương là những bài thơ viết bằng chữ nôm, theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật tám câu bảy chữ và thất ngôn tứ tuyệt bốn câu bảy chữ. Một số tác phẩm thơ nôm của bà Bà Lang Khóc Chồng, Bạch Đằng Giang Tạm Biệt, Bài Ca Theo Điệu Xuân Đình Lan, Bánh Trôi Nước, Bọn Đồ Dốt, Cái Quạt, Cảnh Làm Lẽ, Cái Quạt Giấy 1, Cái Quạt Giấy 2… Nổi bật trong sáng tác của Hồ Xuân Hương có bài thơ Tự tình, là tiếng nói của những thân phận, những khao khát của một kiếp người thấp cổ bé họng. Bài thơ đã thể hiện một cách sâu sắc, mãnh liệt, khát khao sống tự do và hạnh phúc của người phụ nữ. Tự tình còn là nỗi buồn và tâm sự của nhà thơ về số phận lẻ loi của mình, bà khao khát có được hạnh phúc, được yêu thương từ bậc quân tử. Bà nổi tiếng với các tác phẩm thơ Nôm nên từng được nhà thơ Xuân Diệu suy tôn là “Bà chúa thơ Nôm”. Thơ của Hồ Xuân Hương vừa thanh vừa tục, chủ yếu viết về đề tài người phụ nữ Việt Nam, về thói hư tật xấu của nhà sư, thầy đồ thời phong kiến. Bà cũng có một số bài thơ viết bằng chữ Hán, đến nay, tác phẩm thơ chữ Hán của bà chỉ còn lại rất ít bài, trong đó có 5 bài thơ đã ông Trần văn Giáp công bố năm 1962 gồm Hải ốc trù, Nhãn phóng thanh, Độ Hoa Phong, Trạo ca thanh, Thuỷ vân hương. Đón đọc thêm chùm🌿Thơ Hồ Xuân Hương Châm Biếm 🌿 Hay Nhất Phong Cách Thơ Hồ Xuân Hương Tìm hiểu chi tiết về phong cách thơ của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương. Những sáng tác của Hồ Xuân Hương chủ yếu xoay quanh người phụ nữ. Trong lịch sử văn học Việt Nam, Hồ Xuân Hương là nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ, trào phúng mà trữ tình, đậm đà chất văn học dân gian từ đề tài, cảm hứng đến ngôn ngữ, hình tượng. Thơ của Hồ Xuân Hương còn mang tính chế giễu, phê phán thói hư tật xấu trong xã hội lúc bấy giờ. Một giọng thơ mang đậm tính hiện thực, đó là tình yêu quê hương, đất nước tha thiết, muốn hòa mình cùng thiên nhiên. Là sự khát khao trong cuộc sống mong muốn thoát khỏi chế độ phong kiến khắc nghiệt. Cảnh vật trong thơ của bà luôn giàu sức sống và tươi mới. => Có thể nói thơ của Hồ Xuân Hương là một dòng thơ mang tính đấu tranh mạnh mẽ với chế độ phong kiến lạc hậu lúc bấy giờ. Nổi bật trong phong cách sáng tác của bà là sự đồng cảm với những số phận bất hạnh, sự khẳng định vẻ đẹp của người phụ nữ. Nghệ Thuật Thơ Hồ Xuân Hương Tìm hiểu thêm về nghệ thuật sáng tác thơ của Hồ Xuân Hương. Sử dụng lớp ngôn từ và hình ảnh mang đậm dấu ấn của tín ngưỡng phồn thực, Hồ Xuân Hương đã mang đến những bài thơ đa nghĩa, vừa thú vị, vừa sâu sắc. Thơ Nôm của Hồ Xuân Hương hầu hết đều sử dụng bút pháp trữ tình. Bên cạnh Bút pháp “tả cảnh ngụ tình”, “bút pháp trữ tình – tự sự”, “bút pháp trữ tình – trào phúng, trào lộng”, Hồ Xuân Hương còn sử dụng bút pháp “đồng hiện” nhằm thông qua việc miêu tả “cái mình thấy” để miêu tả “cái mình cảm”. Hồ Xuân Hương rất chủ ý sử dụng tính từ chỉ màu trắng và màu đỏ vào sáng tác nghệ thuật để thể hiện những vẻ đẹp đặc trưng về hình thức và tâm hồn người phụ nữ. Hồ Xuân Hương còn sử dụng cả số từ để biểu đạt ý thơ. Từ láy cũng là một thành tựu về ngôn ngữ trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương. Hồ Xuân Hương luôn chú ý khai thác vẫn dụng ngoa ngữ tiếng chửi, thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt vào sáng tác thơ Nôm truyền tụng. Tổng hợp các thông tin về 🌿Thơ Lê Quý Đôn 🌿Đầy đủ nhất Tuyển tập các tác phẩm của nhà thơ Hồ Xuân Hương, cùng tham khảo ngay nhé! *Đề vịnh Hạ Long Độ Hoa Phong Hải ốc trù Nhãn phóng thanh Nhập An Bang Thuỷ vân hương Trạo ca thanh *Đồ Sơn bát vịnh Đông Sơn thừa lương Long tỉnh quá trạc Phật động thâm u Đăng Đông Sơn tự kiến ký kỳ 1 Đăng Đông Sơn tự kiến ký kỳ 2 Tháp sơn hoài cổ Thạch phố quan ngư Bộ Khánh Minh tự cảm hứng Cốc tự tham thiền *Hương đình cổ nguyệt thi tập Quá Khinh Dao từ hoài cổ Bán chẩm thư hoài Đề Trấn Quốc tự Tái ngoại văn châm Thu vũ Cố kinh thu nhật Giang Nam phụ níp kiêm lưu biệt hữu nhân Vịnh thạch phu phụ Thu nhật tức sự *Lưu hương ký Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ Thiếu niên du điệu Xuân đình lan điệu Thu dạ hữu hoài Thu phong ca Nguyệt dạ ca kỳ 1 Nguyệt dạ ca kỳ 2 Ngư ông khúc hành Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu Hoài cựu Thu nguyệt hữu ức Mai Sơn Phủ ký Cảm cựu tống tân xuân chi tác kỳ 1 Cảm cựu tống tân xuân chi tác kỳ 2 Ngụ ý Tốn Phong ký nhị thủ kỳ 1 Ngụ ý Tốn Phong ký nhị thủ kỳ 2 Hoạ nhân Tặng Tốn Phong tử Thạch Đình tặng Ký Sơn Nam Thượng trấn Hiệp trấn Trần Hầu kỳ 1 Ký Sơn Nam Thượng trấn Hiệp trấn Trần Hầu kỳ 2 Hoạ Sơn Phủ chi tác Tốn Phong đắc mộng chí dữ ngã khán nhân thuật ngâm, tịnh ký Hoạ Tốn Phong nguyên vận Hoàng giang ngộ hữu hỉ phú Thệ viết hữu cảm Tự thán kỳ 1 Tự thán kỳ 2 Lưu biệt thời tại An Quảng, An Hưng ngụ thứ Bạch Đằng giang tặng biệt Chí Hiên tặng kỳ 1 Chí Hiên tặng kỳ 2 Hoạ Thanh Liên nguyên vận Nhân tặng Tưởng đáo nhân tình minh nhiên há lệ nhân nhi tẩu bút phụng trình Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 1 Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 2 Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 4 Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 5 Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 6 Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 7 Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 8 Xuân Hương tặng hiệp quận *Thơ truyền tụng Bánh trôi nước Bùn bắn lên đồ Cái giếng Cái quạt Canh khuya Cảnh thu Câu đối Tết Tối ba mươi – Sáng mồng một Chế sư Chi chi chuyện ấy Chơi hoa Chơi Khán Đài Chùa Hương Tích Chùa Sài Sơn Con cua Dệt cửi đêm Du cổ tự Duyên kỳ ngộ Dữ Phạm tế tửu xướng hoạ, kỳ nhị Đá chẹt thi Đá Ông Chồng, Bà Chồng Đàn gảy Đánh cờ Đánh đu Đề nhị mỹ nhân đồ Đi đái bùn nẩy Đọc cho Chiêu Hổ hoạ Đồng tiền hoẻn Đưa đò Qua sông phụ sóng Già kén kẹn hom Hạ nhật tầm phu Ngày hè tìm chồng Hang Cắc Cớ Hàng ư Thanh Quán hàng ở xứ Thanh Hỏi cô hàng sách Hỏi trăng Hữu cảm Khấp Vĩnh Tường quan Khóc chồng làm thuốc Khóc Tổng Cóc Không chồng mà chửa Ký tao nương Mộng Lan Gửi nữ sĩ Mộng Lan Lấy chồng chung Lỡm học trò Miếu Sầm thái thú Đề đền Sầm Nghi Đống Mời ăn trầu Mời trầu0 Mời khách ăn trầu Ngại ngùng Nguyệt hỡi đê mê Nhĩ Hà tức cảnh Núi Ba Đèo Núi Kẽm Trống Nước Đằng Ốc nhồi Phiếm chu ngoạn nguyệt Giong thuyền chơi trăng Quả mít Quá Nghệ An hoài giai nhân, hựu thể Quan Hậu sợ vợ Quán Sứ tự Sài Sơn thiên thị Chợ trời núi Thầy Sư hoạnh dâm Tát nước Tặng tình nhân Thân phận người đàn bà Thị Đểu thi Tự tình Tự tình 2 Tự tình 3 Thương Thương ôi phận gái Thương thay phận gái Tiễn người làm thơ Tình có theo ai Trách Chiêu Hổ Trào tăng Trúc Bạch hồ Tức sự Vấn nguyệt Vịnh bách chu – tức sương nữ Vịnh cái quạt Vịnh chung Vịnh dạy con trẻ Vịnh đời người Vịnh Hằng Nga Vịnh hoa cúc Vịnh nằm ngủ Vịnh ni sư Vịnh ông cắng đánh nhau Cái cắng đánh nhau Vịnh Thăng Long hoài cổ Vịnh xuyên cổ Vịnh trống thủng Vọng Tây Hồ hoài hữu Vô âm nữ Chia sẻ thêm về🌿Thơ Trần Tế Xương 🌿 Tác Giả, Tác Phẩm + Tuyển Tập Thơ Hay 15 Bài Thơ Nổi Tiếng Của Hồ Xuân Hương Gửi đến bạn đọc 15 bài thơ nổi tiếng nhất của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, cùng thưởng thức nhé! Bánh Trôi Nước Thân em thời trắng phận em tròn,Bảy nổi ba chìm mấy nước nát mặc dầu tay kẻ nặn,Nhưng em vẫn giữ tấm lòng son. Thơ Tự Tình Tiếng gà xao xác gáy trên vòm,Oán hận trông ra khắp mọi thảm không khua mà cũng cốc,Chuông sầu chẳng đánh cớ sao nghe những tiếng thêm rầu rĩ,Sau hận vì duyên để mõm tử văn nhân ai đó tá,Thân này đâu đã chịu già tom. Vịnh Cái Quạt Mười bảy hay là mười tám đây,Cho ta yêu dấu chẳng dời dày chừng ấy chành ba góc,Rộng hẹp ngần nao cắm một nực bao nhiêu thời càng mát,Yêu đêm chẳng chán lại yêu hồng má phấn duyên vì cậy,Chúa dấu vua yêu một cái này. Vấn Nguyệt Trải mấy thu nay vẫn hãy còn,Cớ sao khi khuyết lại khi tròn?Hỏi con Bạch Thố đà bao tuổi?Hỏi chị Hằng Nga đã mấy con?Đêm tối cớ sao soi gác tía?Ngày xanh còn thẹn mấy vầng canh lơ lửng chờ ai đó?Hay có tình riêng mấy nước non? Cảnh Thu Thánh thót tầu tiêu mấy giọt mưa,Bút thần khôn vẽ cảnh tiêu sơ,Xanh om cổ thụ tròn xoe tán,Trắng xoá tràng giang phẳng lặng dốc giang sơn say chấp rượu,Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơCho hay cảnh cũng ưa người nhỉ,Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ. Chùa Hương Tích Bày đặt vì ai khéo khéo vòm,Nứt ra một lỗ hổng hòm quen cửa Phật chen chân xọc,Kẻ lạ bầu Tiên mỏi mắt nước hữu tình rơi thánh thót,Con thuyền vô trạo cúi lom tuyền quyến cả phồn hoa lại,Rõ khéo trời già đến dở dom. Họa Nhân Vài hàng chữ gấm chạnh niềm châu,Nghĩ tưởng năm canh nguyệt hé nhuộm thức lam thêm vẻ thẹn,Sương pha khói biếc rộn thêm thơ trước viện, nhà khoe gió,Đồng vọng bên tai, địch thét đâu,Ướm hỏi trăng già khe khắc bấy,Trêu nhau chi những sợi cơ cầu. Đá Ông Chồng, Bà Chồng Khéo khéo bày trò tạo hoá công,Ông Chồng đã vậy lại Bà trên tuyết điểm phơ đầu bạc,Thớt dưới sương pha đượm má nghĩa dãi ra cùng chị Nguyệt,Khối tình cọ mãi với non kia còn biết xuân già giặn,Chả trách người ta lúc trẻ trung. Đánh Đu Bốn cột khen ai khéo khéo trồng,Người thì lên đánh kẻ ngồi trông,Trai đu gối hạc khom khom cậtGái uốn lưng ong ngửa ngửa mảnh quần hồng bay phấp phới,Hai hàng chân ngọc duỗi song xuân có biết xuân chăng tá. Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không! Hỏi Trăng Một trái trăng thu chín mõm mòm,Nảy vừng quế đỏ đỏ lòm lom!Giữa in chiếc bích khuôn còn méo,Ngoài khép đôi cung cánh vẫn mặt kẻ trần đua xói móc,Ngứa gan thằng Cuội đứng lom người bẻ quế rằng ai đó,Đó có Hằng Nga ghé mắt dòm. Lấy Chồng Chung Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùngChém cha cái kiếp lấy chồng chungNăm chừng mười họa hay chăng chớMột tháng đôi lần có cũng khôngCố đấm ăn xôi xôi lại hỏngCầm bằng làm mướn mướn không côngNỗi này ví biết dường này nhỉThời trước thôi đành ở vậy xong. Duyên Kỳ Ngộ Nghìn dặm có duyên sự cũng thành,Xin đừng lo lắng hết xuân gang tay hoạ thơ không dứt,Gần gụi cung dương lá vẫn sẵn bút đề dường chĩnh chện,Trống mang dùi cắp đã phanh không thả lá trôi dòng ngự,Chim tới vườn đào thế mới xinh. Mời Ăn Trầu Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi,Này của Xuân Hương mới quệt phải duyên nhau thì thắm lại,Đừng xanh như lá, bạc như vôi. Ốc Nhồi Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi,Đêm ngày lăn lóc đám cỏ tử có thương thì bóc yếm,Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi. Quả Mít Thân em như quả mít trên cây,Da nó xù xì múi nó tử có yêu xin đóng cọc,Đừng mân mó nữa nhựa ra tay. Đừng bỏ lỡ các thông tin về 🔰Thơ Nguyễn Công Trứ 🔰Hay nhất

thơ trào phúng hồ xuân hương